PHONG THỦY LUẬN . BÀI 3.

23:57 |
Phong Thủy Luận.

6 / XÁC ĐỊNH TÂM NHÀ : Theo cách thông thường chúng ta xác định tâm nhà bằng cách lấy tâm cân bằng trọng lực của căn nhà . Tức là chúng ta lấy trọng tâm về lực của căn nhà theo hình dạng của nó bất kỳ . Các căn nhà chữ nhật , hình vuông lấy tâm bằng cách đơn giản là điểm giao nhau của đường chéo . Các căn nhà có dạng bất kỳ phải lấy tâm theo cân bằng lực . Tuy nhiên , khi người Thày Phong thủy có tu tập Mật Tông , đến một mức nào đó có thể có sự Linh thông với Thần Linh Thổ địa , chính lúc đó , nếu Phong thủy sư bắt ấn triệu Thổ Địa , với sự Linh thông , Thần Thổ địa sẽ chỉ cho người đó đâu là trong tâm của Dương trạch và rất nhiều khi trọng tâm này khác với trọng tâm hình học mà chúng ta đã thực hiện .
dienbatn .
7/ Cung Tài của một căn nhà .
Thông thường theo Bát quái của PT thì Các Cung được kể như sau theo phương hướng (do La bàn xác định) . Cách này tại Đài loan rất hay được áp dụng .

1. Cung Nghề nghiệp. Hướng Bắc
2. Cung Quí Nhân/ Cung Du lịch. Tây Bắc
3. Cung Tử (Cung Con trẻ) Tây
4. Cung Hôn nhân hay Cũng gọi là Cung Phu Thê.Tây Nam
5. Cung Danh tiếng. Nam
6. Cung Tài. Đông Nam
7. Cung Gia đình/ Cung Sức khỏe. Đông
8. Cung Học Vấn/ Cung Kiến thức Đông Bắc
9. Trung Cung thuộc Chủ nhà. Chính giữa thuộc Tâm nhà .

Trong bất kể trường hợp nào , chúng ta họp hội nghị , thảo luận nên ngồi ở góc Đông Nam của căn nhà hay cái bàn để chiếm cung Tài để có lợi thế , quay mặt về một trong 4 hướng tốt của mình , nhường khách ngồi vào cung Quý nhân ( Tây bắc ) . Nếu làm ngược lại , tức là mình ngồi ở Tây Bắc , khách ở Đông Nam là hiện tượng " Phản khách vi chủ " - Phần thiệt hại hay bị động lập tức về phía mình . Cung Đông Nam tức cung tài tuyệt đối không để WC vì mỗi lần giật nước , tiền bạc sẽ bị cuốn trôi đi . Khu vực cung Tài nên đặt Tủ chứa tiền , bàn thờ hay chỗ làm việc của mình . Người Đài Loan thường dùng những cung này để cải biến tình hình trong nhà . Ví dụ tự nhiên thấy trong nhà vợ chồng hay bị xào xáo , gây gổ , người ta xem lại góc phía Đông hay Tây Nam của ngôi nhà tức là cung Gia đình và Phu thê . Người ta quét dọn khu vực này cho sạch sẽ , gắn thêm đèn sáng hoặc đặt thêm một cái Phong Linh . Chỉ ít bữa sau hiện tượng lục đục trong gia đình sẽ hết . dienbatn thử cách này thấy rất hiệu quả .
dienbatn .
8 / LƯU Ý VỀ BÁT SÁT :  Bát sát là quan hệ hung hại giữa phương vị của Long và Thủy chảy vào Minh đường , của Long và Hướng nhà , giữa Hướng nhà và hướng của Thủy chảy vào Minh đường , giữa Hướng nhà và phương vị của cửa chính , giữa Hướng nhà và ngày tháng khởi công xây dựng .
Bát sát là các kiêng cữ rất nghiêm ngặt trong việc lập hướng , lập Thủy Pháp Trường Sinh , chọn ngày khởi công xây dựng trong cả Âm trạch và Dương trạch . Nếu vi phạm vào bát sát thì chắc chắngia chủ không tránh khỏi tai họa cho gia đình và con cháu .
Bát sát bao gồm : Ngọ sát càn , Thìn sát Khảm , Dần sát Cấn , Thân sát Chấn , Dậu sát Tốn , Hợi sát Ly , Mão sát Khôn , Tỵ sát Đoài .
Ý nghĩa của bát sát rất phức tạp , song các bạn chỉ cần lưu ý những điều cơ bản sau :
HƯỚNG BỊ SÁT : Cửa nhà hướng Càn mà ở Ngọ vị ( ta đặt la kinh trên tâm điểm của ngôi nhà , phóng các cung tới bức tường đối diện ) là bị sát . Nhà hướng Đoài mà cửa ở Tỵ vị là bị sát . Nhà hướng Khôn mà cửa ở mão vị là bị sát . Nhà hướng Ly mà cửa ở Hợi vị là bị sát . Nhà hướng Tốn mà cửa ở Dậu vị là bị sát . Nhà hướng Chấn mà cửa ở vị Thân là bị sát . Nhà hướng Cấn mà cửa ở vị Dần là bị sát . Nhà hướng Khảm mà cửa ở vị Thìn là bị sát .
NGÀY BỊ SÁT : Tương tự như vậy Nhà hướng càn không được khởi công hay để cửa ra vào , cửa ngõ , cửa sổ hay dòng nước tới từ vị Ngọ , ngày Ngọ . nếu để vào vị đó , ngày đó tai họa sẽ ập đến liền . Khi làm nhà , các bạn hết sức lưu ý vấn đề này .

9 / THỦY PHÁP TRƯỜNG SINH :

Trong Địa lý cổ truyền,phương pháp căn cứ vào các dòng nước chẩy chảy đến,tụ lại chảy đi ở xung quanh cuộc đất để xác định hướng và vị trí nhà gọi là Thủy pháp.Phương pháp căn cứ vào các dòng nước chảy,nuớc tụ và hướng nhà nằm vào cung nào của hệ trường sinh thì gọi là Thủy pháp trường sinh.Vậy phương pháp kết hợp Thủy pháp với các phương vị của thiên bàn và phương sinh thái của hệ trường sinh để xác định hướng và vị trí nhà để đón cát tránh hung gọi là Thủy pháp trường sinh.Trong Địa lý cổ truyền Thủy pháp trường sinh là quan trọng nhất,ở vùng đồng bằng và Thành phố các điều kiện về Sơn mạch,Long mạch rất khó phát hiện ,do vậy Thủy pháp trường sinh càng quan trọng.Khi làm đúng Thủy pháp trường sinh rồi ,đã đón được cát tránh được hung rồi. 

Thủy pháp: 

Hướng vượng gặp nước là vượng thủy. Hướng suy gặp nước thì lại suy hơn. Trái lại, Tọa vượng gặp nước thì lại rất xấu nhưng Tọa suy gặp nước thì lại rất tốt. Do đó, các bố trí về thủy như bồn tắm, bồn rửa mặt, hồ cá, hồ bơi, vòi nước, máy giặt... đều cần phải đặt đúng vị trí để làm cho suy vượng.
Phía bên ngoài nhà nếu có thủy nơi các Hướng, Tọa vượng, suy như sông ngòi, hồ ao... có thể thấy được từ nhà nhìn ra thì cũng có ảnh hưởng quan trọng đến những người cư ngụ trong căn nhà này.
Thủy pháp được dùng rất nhiều trong phái Huyền-không để làm vượng thêm các cung có Hướng đương vượng và cũng để làm vượng các cung có Tọa đương suy. Khi dùng Thủy-pháp phải chú ý tránh việc làm vượng hướng có thể làm suy tọa hay ngược lại. Phối hợp Ngũ-hành, Thu sơn xuất xát và Thủy-pháp nhiều khi có thể giúp làm giãm sự sui sẻo mà lại tăng thêm may mắn.
Ngoài ra, hình thể của sông ngòi theo phái Loan-đầu cũng rất quan trọng dù rằng thủy ở đúng phương làm cho vượng. Như dòng nước chảy vòng cung rồi bắn thẵng trở lại hay thuận thủy (còn gọi là tống thủy) tức là thủy khí đi từ gần nhà xa ra thì xấu cho tài lộc. Còn trường hợp nghịch thủy là nước chãy ngược tới thì rất tốt cho tiền tài.
Nghịch thủy hay Thuận thủy là căn cứ theo phương hướng của cửa chính và dòng nước hay con đường phía trước cửa chính. Trong vị thế cửa chính như đón hướng đi của dòng nước hay hướng đi của dòng xe cộ lưu chuyễn thì như là đón thủy khí vào nhà, tức là nghịch thủy. Trong vị thế cửa chính quay xuôi theo dòng nước hay chiều đi của xe cộ trước nhà thì coi như là thủy khí từ nhà theo dòng này mà thoát ra nên đây là tống thủy khí đi, là thuận thủy, là mất thủy khí.
Thủy Pháp Tường Sinh rất quan trọng khi thiết kế xây dựng nhà mới . Nó chính là việc điều tiết dòng Khí ra vào của căn nhà nhờ vào dòng nước cho phù hợp với Thiên Môn - Địa Hộ của căn nhà . Đây chính là hướng đường cấp , thoát khi tiến hành tính toán cụ thể khi thiết kế .

10 / Tam sát: 

Tam sát là 3 sao có sát khí là Tuế-sát, Kiếp-sát và Tai-sát. Tam-sát có 3 loại là Niên Tam-sát, Nguyệt Tam-sát và Nhật Tam-sát hay nói cách khác là Tam-sát của năm, tháng và ngày.
Tam-sát là sát ở các cung sau đây: 1. Năm Thân, Tý, Thìn (hay tháng 7, 11, 3 ta) sát ở 3 phương Tỵ, Ngọ và Mùi tức phương Nam.
2. Năm Dần, Ngọ, Tuất (hay tháng 1, 5, 9 ta) sát ở 3 phương Hợi, Tý, Sửu tức phương Bắc.
3. Năm Tỵ, Dậu, Sửu (hay tháng 4, 8, 12 ta) sát ở 3 phương Dần, Mão, Thìn tức phương Ðông.
4. Năm Hợi, Mão, Mùi (hay thánh 10, 2, 6 ta) sát ở 3 phương Thân, Dậu, Tuất tức phương Tây. Các nơi có Tam-sát đều kỵ động làm tăng năng lực sát. Vì vậy mà cấm động thổ, tu sửa... nhứt là khi Tam-sát ở cung Tọa vì khi đó khí mạnh của hướng xung chiếu thẳng làm phạm xung sát nên tai họa đến liền.

11/ MỘT VÍ DỤ VỀ XÁC ĐỊNH VỊ CỦA CỬA RA VÀO : 

CÁC VỊ CỬA CHÍNH : Nhà tọa Nhâm hướng Bính 
Cửa chính được chia làm ba vị theo chiều dài mặt tiền.Cửa ở chính giửa gọi là chánh môn .Cửa bên phải và bên trái mặt tiền (từ trong nhìn ra ) được gọi là tả,hữu thiên môn.Ta lần lượt xét các vị cửa như sau :
A/Chánh môn : Hướng Bính vị Bính bị Xương dâm và các sao Dực , Sao Trương quản .
• Xướng dâm(Hung):Đặt cửa vào sơn vị này là xấu: Dâm loạn nam nữ tửu sắc hại gia phong,hoài thai,chăn nuôi bất lợi.
• Sao Trương : Là nguyệt tinh, mang tên con hươu. Là một sao xấu, chủ về xấu trong xây dựng, tai nạn, quan hệ nam nữ .
• Sao Dực : Là Hỏa tinh, mang tên con rắn. Là một sao tốt, chủ về vượng tài lộc, con cháu giầu sang, xây dựng, hôn thú tốt đẹp.
• Đây là một vị cửa xấu .
B/ HỮU THIÊN MÔN : Hướng Bính vị Mùi : Bị Tuyệt bại và các sao Tỉnh , sao Quỷ quản .
• Tuyệt bại(Hung):Đặt cửa vào sơn vị này là xấu:Gia tài phá hoại,cha con không quan tâm đến nhau.
• Sao Tỉnh : Là Mộc tinh mang tên con hươu. Là một sao tốt, chủ về lợi cho việc thi cử, công danh, trồng trọt, chăn nuôi được mùa, xây dựng nhà cửa, hôn nhân tốt đẹp. Sao này kỵ an táng.
• Sao Quỷ : Là Kim tinh, mang tên con dê. Là một sao xấu, chủ về bất lợi cho việc xây cất nhà cửa, hôn nhân bất lợi. Riêng việc an táng tốt.
• Đây cũng là một vị cửa xấu .
C/ TẢ THIÊN MÔN : Hướng Bính vị Thìn bị Cô quả và các sao Giác , sao Cang quản .
• Cô quả(Hung):Đặt cửa vào sơn vị này là xấu:Quả phụ ,tha phương cầu thực,phá sản,chăn nuôi bất lợi.
• Sao Giác :Là Mộc tinh mang tên con Giao ( Cá Sấu ), . Là một sao tốt, chủ về vinh hiển, đỗ đạt, gặp Quý nhân, lơi cho việc hôn thú, con cái tốt lành. Kỵ mai táng và xây cất mộ phần.
• Sao Cang : Là Kim tinh, mang tên con Rồng. Là một sao xấu, chủ mọi việc phải giữ mình, đừng làm liều. Ky hôn thú.
• Đây cũng là một vị cửa xấu .
Như vậy hướng nhà này không có một vị cửa nào tốt cả .
Nếu mở cửa Hướng Bính vị Đinh thì được Hoan lạc trong hệ Phúc đức là tốt , nhưng bị sao Liễu trong Nhị thập bát Tú lại xấu . Song sao tốt của hệ Phúc đức ảnh hưởng liên tục còn sao xấu trong Nhị thập bát tú 28 năm , tháng , ngày mới xuất hiện một lần . Nếu mở cửa hướng Bính vị Tốn thuộc trạch Ly điều kiện lập Thủy pháp Trường sinh : Thủy khẩu ở Tuất được sinh hướng và Vượng hướng . Thủy khẩu ở Mùi thì được tự sinh hướng và tự vượng hướng .
12/ TÀI LIỆU THAM KHẢO : NGHỆ THUẬT ĐIỂM THẦN SÁT . 

Căn cứ để an Thần sát :
1/ Xác định Tọa .( Phân kim) .
2/ Xác định Hướng ( Phân kim ) .
3/ Xác định Đại môn ( Phân kim ) .
I/ MÔN KHÍ CỬU CUNG ĐIỂM THẦN SÁT :
( Môn Lầu cửu cung điểm Thần sát ) .
A/ CÁC THẦN SÁT PHẢI AN : 
a/ Thần sát an theo Can của Đại môn bao gồm .
1/ THIÊN LỘC .
2/ DƯƠNG QUÝ NHÂN .
3/ÂM QUÝ NHÂN .
b/ các Thần sát an theo Chi của Đại môn :
4/ ĐÀO HOA .
5/ ĐẠI SÁT .
6/ THIÊN MÃ.
7/ ĐỘC HỎA .
8/ THIÊN HÌNH . 

II/CHỦ ĐỊA KHÍ CỬU CUNG ĐIỂM THẦN SÁT
A/ CÁC THẦN SÁT PHẢI AN : 
a/ Thần sát an theo Can của Hướng nhà bao gồm .
1/ THIÊN LỘC .
2/ DƯƠNG QUÝ NHÂN .
3/ÂM QUÝ NHÂN .
b/ các Thần sát an theo Chi của Hướng nhà :
4/ ĐÀO HOA .
5/ ĐẠI SÁT .
6/ THIÊN MÃ.
7/ ĐỘC HỎA .
8/ THIÊN HÌNH .
Ý NGHĨA CỦA THẦN SÁT 
Đại môn là nơi họa phúc tiến vào hoặc ra đi , là nơi động Khí , nơi Âm - Dương - Ngũ Khí gặp nhau mà tạo ra cát hung ." Họa tòng Khẩu xuất - bệnh tòng Khẩu nhập " . Nghĩa là mọi tai họa , bệnh tật đều do từ miệng mà ra . Có thể nói rằng : Cát , Hung , Họa , Phúc của Dương Trạch đa phần có liên quan đến khẩu Môn , mà điều đó người ta có thể tạo ra được thông qua phép KHAI MÔN THỤ KHÍ. Từ đó có thể tạo ra và quyết định vận mệnh của mình . 

1/ THIÊN LỘC : 

Lộc là phương Lâm quan của Tuế Can , tính của Ngũ hành , Lâm quan tới cát . Lâm quan là thời đương thịnh , đang lên phơi phới , là đúng Đạo sinh thành , gần tới Vượng mà là Lộc , bởi đã Vượng thì Thái quá . Lộc là cách có Lộc ra chính môn . Nhà có cách này là cát khánh , rất tốt . Lộc ra chính Môn sẽ đem lại nhiều may mắn về tiền bạc , gia sản thăng tiến , điền trang vượng .Thường sinh người béo tốt , thông minh , tuấn tú lại khéo léo , tài năng Kinh doanh giỏi , làm ăn tiến phát . Tuy nhiên cũng cần phải lánh xa Sinh - Vượng Lộc , tránh không vong tử , tuyệt . Nếu Mộ , Không vong , Tử , Tuyệt thì Khí tán , không tụ , là vô dụng . Có Lộc cũng như không . Tài sản dù có như nước , rồi cũng tiêu tan hết . Đó gọi là Tuyệt Lộc . Nếu gặp Thai Khí thì mặc dù vẫn phát đạt , nhưng con trai tài hoa mà kiêu ngạo , con gái nhỏ thì khả ái nhưng ngỗ nghịch . Trong gia đình hay sinh nội loạn , cãi vã , cả ngày ồn ào khiến mọi người bất yên .Lộc cung là Cát cung , vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra , còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ . Tất cả được Lộc đều tốt . Tuy nhiênLộc phải cư đúng cung tài , là Lộc cư Lộc , mới thật là đắc cách , mới thật sự tốt đẹp . 
2/ THIÊN MÃ : 
Mã chủ trạng thái động , là tượng của thay đổi , bôn tẩu .
Mã ra chính môn thì Gia trạch luôn gặp sự may mắn , tin vui ngất trời , phát tài mau chóng , công việc đều trôi chẩy thuận lợi . Thường sinh ra người khôi ngô , tuấn tú lại hay xuất Ngoại ra ngoài , ăn nên làm ra . Tuy nhiên cũng như Lộc , Mã cần phải Sinh - Vượng , tránh Không vong , Tử , Tuyệt . Gặp Sinh , Vượng thì tốc phát , lại sinh ra người thông minh , cao quý . Gặp Không vong , Tử , Tuyệt thì Giang hồ bôn tẩu nơi xa đểu mưu sinh . Tha phương , cầu thực , công danh thăng giáng thất thường , sự nghiệp thì long đong , lận đận , lại dễ gặp tai nạn về chân tay . Công việc chỉ có đầu mà không có đuôi , thành công ít mà thất bại thì nhiều . Gặp Thoái Khí lại ra cung Đoài trực cùng Đào hoa thì Âm thịnh - Dương suy , con gái dễ phát sinh dâm loạn , con trai chơi bời , nghiện ngập , bại hoại Gia phong .
Mã cũng là cát cung , vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ đều tốt . Chỉ có giường ngủ của Nữ là không nên đặt tại Mã cung, nếu đặt phải thì Tâm bất an , không ở yên một chỗ .
3/ QUÝ NHÂN :
 Quý Nhân Thiên Ất là vị Thần đứng đầu cát Thần , hết sức tĩnh mà có thể chế ngự được mọi chỗ động , chí tôn mà có thể trấn được phi phù .
Nhà có chính môn ra Quý là Đại cát khánh , Gia đạo bình an , hòa thuận , hỉ Khí đầy nhà , luôn gặp may mắn . Quý nhân là sao cứu trợ , là Thần giải tai ách , nên nhà ra Quý nhân là gặp việc có người giúp đỡ , gặp ách có người giải cứu , gặp hung hóa cát. Sự nghiệp hiển vinh , công danh thành đạt , dễ thăng Quan , tiến chức , học hành thi cử nhất nhất đều tốt đẹp . Quý nhân gặp sinh , Vượng , thường sinh người hiếu lễ, khôi nguyên , tướng mạo phi phàm , tính tình nhanh nhẹn , lý lẽ phân minh , không thích mẹo vặt , thẳng thắn mà ôn hòa , khôi ngô tuấn tú . Nếu ngộ Không vong , Tử , Tuyệt thì nguồn Phúc giảm đi nhiều , hoặc nếu có mắc nạn cũng khó tránh , bởi nguồn cứu giải kém hiệu lực , người và gia súc bị tổn thất , kiện cáo , thị phi . Lại hay sinh người tính tình cố chấp , bảo thủ mà suốt đời vất vả , không nên người . Quý nhân ra Thai Khí , nếu lại ngộ Đào hoa thì nam , nữ tuy thông minh , tuấn tú , nhưng nam thì hiếu sắc , nữ thì dâm đãng , làm bại hoại Gia phong , lại hay mắc bệnh tật và trong nhà dễ có người tự ải , tự vẫn vì tình .
Quý nhân là Cát Khí rất tôn quý , nên gia vào cung nào cũng rất tốt , ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ đều tốt . Đặc biệt bàn thờ đặt trên cung có Âm Quý nhân là đại cát khánh , như vậy sẽ được âm Linh phù trợ . Không được để phòng tắm , nhà vệ sinh vào cung Quý nhân , vì như vậy sẽ bị họa hại liên miên , nữ nhân thiếu máu , động thai , sinh con dù có đẹp đẽ nhưng cũng dấn thân vào con đường ô nhục , làm điếm , cuối cùng phải tự vẫn . Tài sản tiêu tan , yêu ma hoành hành , gia đình có người bị cướp bóc , chém giết máu me thảm khốc , bệnh tật đau khổ triền miên . Nếu để nhầm WC vào cung Âm Quý nhân thì tai họa khủng khiếp khó lường .
4/ THIÊN HÌNH : Chính Môn gia Hình thì hại vô cùng , vì Hình chủ tù , ngục , kiện tụng , là tượng của chém giết , mổ xẻ , châm chích . Hình gia Môn thì Gia đạo thường xuyên gặp tai họa , tai bay m họa gió từ đâu đưa đến . Những người sống trong nhà này , tuổi thọ bị triệt giảm . Trong người hay mang thương tật , lại dễ xảy ra kiện tụng , hoặc những việc liên quan đến ngục hình . Trai khắc vợ , gái sát chồng . Hình gia Môn cũng thường sinh ra người có tính khí hung bạo , liều lĩnh , bướng bỉnh , ngang tàng và gian trá , lại hay mang tật trong mình , lớn lên ắt phá tán Tổ nghiệp , tha phương cầu thực .
Thiên hình gia cung nào cũng hung , nếu nó thất hãm còn đỡ , chứ nếu Miếu , Vượng thì vô cùng nguy hiểm . Giường ngủ hay bàn học của con trẻ , nếu để vào cung Hình thì dù có giỏi giang sáng dạ cũng không may khi thi cử , điểm số không cao . Thiên Hình mà đóng ở cầu thang , lại gặp Mã thì ra Mã què , chủ gặp khó khăn trong công việc , nhất là các thủ tục liên quan đến giấy tờ , thủ tục hành chính . Nếu Hình Vượng thì chủ gặp tai nạn Giao thông , tai nạn thương tích chân , tay . Hình , Lộc đi cùng nhau , chủ hay bị mất cắp , làm ăn đổ bể , thất tài , phá sản , hoặc do làm ăn bất chính mà dính dáng tới Pháp luật . Thiên Hình chỉ nên đặt tại nhà WC , phòng tắm , để yểm , trấn là tốt . Khi ấy Hình không còn hiệu lực tác phát , trở thành vô họa .

5/ ĐẠI SÁT : Đại sát là sát của Âm Khí , đó là loại đặc biệt độc . Đại sát thường đóng ở tứ Quý . Đất của Tuế sát không thể phạm vào , phạm vào ắt thương tổn .
Nhà có chính Môn gia Sát là phạm vào cách hung họa nhất , chủ tai nạn chết chóc , ốm đau , bệnh tật . Tai nạn giáng xuống liên miên . Nặng thì mất mạng toàn Gia và chết đến một cách rất thê thảm , khủng khiếp . Nhẹ thì cũng Quan trường bãi miễn , gia sản lụng bại , bần cùng . Tuế Sát mà Gia Môn thì thường sinh ra người yểu tử ( Hữu sinh vô dưỡng ) , hoặc sinh ra người tính tình ương ngạnh , hiếu thắng , hung tơn , nham hiểm , bất nhân nhưng có đầu óc kinh doanh , thủ công , mỹ nghệ . Tuy nhiên vẫn suốt đời vất vả , thường hay mắc nhiều tai ách và chẳng làm nên công cán gì . Loại nhà này chẳng thể ở lâu , phải mau chóng sửa , trị kịp thời .
Đại Sát là một sao đại hung họa , nên vào cung nào cũng hung . Giường ngủ hay bàn học của con trẻ , nếu để ở cung Đại Sát , được Sinh , Vượng Khí , thì học tài thi phận , thi cử không may . nếu gặp Tử , Tuyệt thì lười biếng , ham chơi lại hay nói dối .
Đặc biệt tối kỵ đặt bàn thờ vào cung Đại Sát , lúc đó sẽ có người điện khùng , hoảng loạn , cũng có thể sinh ra người cờ bạc , nghiện hút , đổ đốn , hư hỏng . Cung Đại Sát chỉ có thể đặt WC hay phòng tắm mà thôi .
6/ ĐỘC HỎA : Độc Hỏa là khí Hỏa thịnh vượng , là Hỏa khí do sự biến đổi của Âm - Dương tạo ra . Nó chính là khí Liêm Trinh nên mang nhiều sát khí . Độc Hỏa lâm môn thì Hỏa khí vượng , khiến dễ bị Hỏa tai hay bị Hỏa khí bốc lên đầu , mà sinh ra bệnh tật , đồng thời khiến cho những người sống trong nhà hay bị hồ đồ , lỗ mãng . Độc Hỏa lâm môn hay sinh ra những người nóng tính , liều lĩnh , hung bạo , thường làm những chuyện rồ dại . Độc Hỏa lâm môn cũng đồng nghĩa thóai tài , nghèo khổ .
Độc Hỏa là hung tinh nên khi đến cung nào cũng không tốt . Tuy vậy , Độc Hỏa là hung tinh nhưng không quyết liệt như Đại sát , Thiên Hình . Do vậy , Độc Hỏa chỉ thật sự gây tác hại khi đến cung đặt bàn thờ hay bếp . Những trường hợp khác có thể châm chước được . Bàn thờ và bếp là hai cung phát hỏa nên không bao giờ đặt bàn thờ và bếp vào cung có Độc Hỏa .

Thúc Đẩy Vị Trí Đào Hoa Tăng Cường Tình Duyên
( Tham khảo bản dịch của Thế Anh - http://vanhoaphuongdong.com ).

Huyệt vị đào hoa , theo quan niệm của Khoa Phong Thủy Trung Hoa gồm có ba hệ thống tính toán . Hệ thống đầu tiên là Lý Khí lại được chia làm hai . Phái Bát Trạch thì lấy cung Diên Niên của phi cung mỗi người làm căn cứ để thúc đẩy Đào Hoa hoặc căn cứ theo cửa để tính . Tức là Tý , Ngọ , Mão , Dậu tức là bốn vị trí của Đào Hoa , tức là chính Bắc, Nam, Đông ,Tây . Tất cả những nhà cửa lớn hướng Dần , Ngọ , Tuất , Đào Hoa nằm ở chính Đông . Cửa lớn hướng Thân , Tý , Thìn , Đào hoa tại hướng Nam . Cửa lớn hướng Hợi ,Mão ,Mùi Đào Hoa nằm chính Bắc .
Phái Cửu Tinh huyền không thì lấy sao Nhất Bạch thủy tinh làm Đào Hoa tinh , căn cứ cung vị nó đóng ở mỗi nhà , hoặc bay đến hàng năm để kê đặt cho đúng . Tuy nhiên phái này cũng coi Sao Nhất Bạch này là tán tài , giống như chúng ta ngày nay thường hay đùa nhau rằng : “Yêu là tốn trong nhà một ít !” .
Hệ thống tính dựa trên Sinh Tiêu ( Tuổi con gì ) thì đặc biệt coi trọng tính khác biệt của mỗi người , dù cùng chung một nhà nhưng tôi có Đào Hoa của tôi , anh có Đào Hoa của anh , “Hồn ai nấy giữ !” . Cách tính như sau :Năm sinh thuộc Thân Tý Thìn Đào Hoa Tại Tây Phương .
Năm sinh thuộc Dần Ngọ Tuất Đào Hoa tại Đông Phương .
Năm sinh thuộc Tỵ Dậu Sửu Đào Hoa tại Nam Phương .
Năm sinh tại Hợi Mão Mùi Đào Hoa tại Bắc phương .
Căn cứ vào tuổi của mỗi người , có thể bù đắp làm tốt thêm cho Đào Hoa vị , Đào Hoa chỉ thích hợp dùng cho người có cùng tuổi phù hợp càng quý hơn ( Nghĩa là đối tượng cùng vị trí Đào Hoa thì việc thành công càng dễ hơn ) .
Hệ thống cuối cùng thì đơn giản hơn nhiều . Bạn chỉ cần đứng trong nhà nhìn ra cửa bên tay trái của bạn sẽ là Thanh Long ứng với nam tính , bên tay phải là Bạch Hổ ứng với nữ tính . Nếu bạn là Nam thì dùng Bạch Hổ , Nữ thì dùng Thanh Long . Chia mỗi bên làm ba khoảng cách bằng nhau nếu bạn là con trai thứ 1, 4 , 7 thì dùng phần đầu bên Bạch Hổ , 2 , 5, 8 thì dùng vị trí thứ hai 3, 6, 9 thì dùng vị trí thứ ba . Nữ cũng thế mà suy ra cho bên Thanh Long . Xin lưu ý là tính thứ tự của mình thì tính anh em nam riêng , chị em nữ riêng .
Vậy trong ba cách tính Đào Hoa này thì nên chọn cái nào !? Theo tôi trước hết các bạn nên sử dụng theo cách tính của Bát Trạch và Cửu Tinh trước rồi sau đến sử dụng hướng của Sinh Tiêu , hướng cửa . Nếu các vị trí đó đều không thuận tiện để kê đặt thì sử dụng tới Thanh Long , Bạch Hổ .
Để sử dụng phép thúc đẩy Đào Hoa này các bạn có thể sử dụng các Bảo Khí dùng trong Phong Thủy hoặc sử dụng ngay các vật có sẵn trong nhà như giường ngủ , bình hoa , bề cá để kê đặt tăng cường cho Đào Hoa vận .
1. Giường Ngủ : Đây là phương pháp đơn giản mà không dễ , bạn chỉ cần căn cứ theo các phép tính toán như trên rồi kê giường nằm quay đầu và đặt trong cung vị đó là được . Tuy nhiên cần lưu ý tránh đừng để phạm vào các tiêu chuẩn khác của Khoa Phong Thủy . Song nếu bạn là người yêu mãnh liệt thì không ngại ! Tất cả cho tình yêu !
2. Bình Hoa : Tại các vị trí Đào Hoa đặt một bình nước trong , cắm hoa tươi . Đây là một biện pháp giản tiện , mà hiệu quả . Tuy nhiên có mấy điều các bạn cần lưu ý như sau :
- Bình Hoa nhất định phải có nước sạch và hoa tươi ! Nếu chỉ có bình không bạn sẽ phải đối đầu với sự bất hạn trong tình cảm , như yêu đơn phương , hoặc yêu mà không lấy được .
- Rất cần sử dụng hoa tươi , các loại hoa nhựa , hoa pha lê , hoa khô đều không có kết quả gì . Số cành tốt nhất là 4 vì tượng cho 4 vị trí Đào Hoa làm tăng thêm cơ hội cho bạn .
- Hoa tươi khi khô héo nhất định bạn phải thay hoa khác , nếu không nó tượng trưng cho tình yêu của bạn nửa đường đứt gánh , hoặc miễn cưỡng trong hôn nhân .
Màu sắc của bình hoa cũng nên phối hợp tốt với phương vị sẽ đặt . Như Đông , Đông Nam sử dụng màu xanh . Nam sử dụng màu đỏ , hồng . Bắc dùng màu lam , màu đen . Tây và Tây Bắc dùng màu kim , trắng . Tây Nam , Đông Bắc dùng màu vàng , màu cam . Nếu sử dụng theo cách tính Thanh Long , Bạch Hổ thì Thanh Long dùng màu xanh , Bạch Hổ dùng màu trắng .
Bình Hoa có thể sử dụng các chất liệu thuộc hành thổ như Gốm , Sứ , Pha Lê …v…v… bởi hoa vốn sinh trưởng trong đất !
Dùng hoa tốt nhất là dùng các màu sắc diễm lệ như đỏ thắm , phấn hồng , vàng , tím , các màu đen trắng rất kỵ .
Còn một vật dụng cũng rất quen thuộc nữ cũng dùng thúc đẩy lương duyên mà khoa phong thủy hay dùng đó là bể cá cảnh . Đương nhiên trong bể nhất định phải thả cá thật . Ngày nay do một số người ngại chăm sóc nên dùng bể cá điện tử , trường hợp này cũng tương tự như dùng hoa giả vậy . Mầu sắc của cá cũng khá quan trọng , nói chung là nên sử dụng các loại cá có màu sắc rạng rỡ , tươi tắn , cũng có thể dùng loại cá nhiều màu tha thướt . Tốt nhất là các loại có ánh kim . Xin các bạn lưu ý là không nên nuôi các loại cá thuộc dòng cá chép , bởi cá chép ( Lý Ngư ) chủ về thúc đẩy tài vận , sự nghiệp còn đối với Đào Hoa vận lại vô hiệu . Cá rồng thì càng không nên vì cá rồng sát khí quá mạnh , chủ về trấn sát , trừ tà .
Xin gợi ý với các bạn một chút về mầu sắc : Đối với những người thuộc phi cung Khảm ,Chấn , Tốn các bạn có thể dùng các có sắc xanh , lam , đỏ . Đối với người có phi cung Ly các bạn có thể dùng màu đỏ , xanh , vàng . Đối với người có phi cung Càn , Đoài nên dùng trắng , bạch kim , vàng . Phi cung Cấn , Khôn nên dùng đỏ , vàng , kim .
Có một điều mà sẽ ít người để ý đó là số lượng cá ; thật ra có nhiều thuyết đưa ra để tính số cá cần thiết ; tuy nhiên có hai điều cần chú ý : Tuyệt đối không thả một con ; nên có cặp đôi trống mái . Vì theo quy luật thiên nhiên thì nam nữ kết hợp mới sản sinh vạn vật .
Trên đây là một số cách thúc đẩy tình yêu theo quan niệm triết lý của Khoa Phong Thủy Á Đông . Mùa xuân về chính là mùa của vạn vật sinh sôi kết thành đôi lứa , chuẩn bị cho một mùa sinh sản mới . Tất cả bừng tỉnh sau một mùa đông dài lạnh giá . Còn các bạn hãy lạc quan cho tình yêu của mình và thử áp dụng thêm các cách trang trí này xem . Hiệu quả đến đâu tự các bạn sẽ chiêm nghiệm , nhưng có một điều quan trọng là các bạn còn yêu và muốn được yêu .
Có một điều nói khẽ là các biện pháp này chỉ dùng cho các bạn chưa có gia đình . Đối với người đã có gia đình thì không có lợi , lại còn hại , vì bạn sẽ vô tình đẩy bạn đời của mình vào tay người khác , hoặc tự chuốc cho mình những rắc rối về tình cảm . Xin hãy cẩn thận !
Tuy nhiên nếu để bảo vệ hạnh phúc của gia đình mình thì bạn cũng nên nắm rõ vị trí Đào Hoa của mọi người trong gia đình mình để hóa giải , bảo vệ hạnh phúc gia đình . Với chủ đề này xin hẹn một dịp khác

13 / SỬ DỤNG GƯƠNG TRONG PHONG THỦY .

Trước hết nói về tấm gương:
1/ Những tấm gương có tác dụng phản chiếu:Khi người ta không muốn nhận các tia hay các nguồn sáng, các dòng Khí ( Qi )đi vào nhà hay một phần nào đó của ngôi nhà , người ta thường dùng gương để phản chiếu nhằm đẩy hắt các tia hay dòng khí đó đi. Khi căn nhà có hướng không hợp với tuổi chủ nhà, người ta thường đặt một tấm gương ở mặt tiền căn nhà để hóa giải những bất lợi.
2/ Gương soi làm cho các vị trí mờ tối được sáng sủa lên. Ví như trong căn nhà, hướng Đông Nam là cung Tài lộc, hướng Tây Bắc là cung Quý nhân phù trợ, hướng Chánh Nam là cung Danh vọng, Hướng Chánh Bắc là cung Nghề nhgiệp, hướng Chánh Tây là cung con cái, hướng Chánh đông là cung Gia đạo, hướng Đông Bắc là cung Kiến thức, hương Tây Nam là cung Hôn nhân . Khi trong nhà phát sinh ra sự xấu, ví dụ như Gia đạo lộn xộn, xào xáo, người ta đặt gương và những bóng đèn ở cung Chánh Đông của ngôi nhà, tự nhiên mọi việc được hóa giải....Đây là cách trấn yểm dùng để khắc phục những sự xấu phát sinh trong nhà.
3/ Gương có tác dụng làm mất đi những góc cạnh hay khiếm khuyết của ngôi nhà. Nếu ngôi nhà hương Tây bị khuyết góc chẳng hạn, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của Thiếu nữ sống trong nhà.Người ta dùng gương lắp vào góc khuyết làm mất đi sự khiếm khuyết đó.
Gương còn có tác dụng hóa giải những cấy to hay trụ điện trước cửa - Trường hợp này người ta hay dùng gương lồi hay lõm.
4/Gương soi có thể hóa giải cho những cầu thang đổ ra đường
( Làm cho tiền bạc trong nhà đổ ra vì hình tượng cầu thang đổ ra đường có hình như một thác nước ). Người ta dùng một tấm gương để hóa giải điều đó. Lúc đó có hai cầu thang thật và ảo giống như hai con Rồng âm và dương đối diện nhau. Bởi lẽ " Nhất âm nhất dương chi vi Đạo" nên hai con Rồng tương tác, hóa giải được việc cầu thang đổ ra đường.
5 /Gương soi còn có tác dụng làm cho căn phòng thêm rộng ra, có thể rời đổi vị trí của đồ vật kê trong phòng mà trong thực tế ta không có khả năng dời đổi. Tác dụng này được sử dụng rất nhiều trong các trường hợp đồ vật để không đúng chỗ mà người ta không thể dịch chuyển chúng sang vị trí khác. Lúc đó ta dùng gương làm cho vật đó như đã được đổi chỗ.
Một điều rất quan trọng là khi đặt gương như thế nào cụ thể trong nhà, bạn phải tính toán hết sức cẩn thẩn, vì đôi khi chỉ có một mảng gương bằng bàn tay để không đúng chỗ sẽ làm cho cuộc sống của bạn đi về một hướng khác.


















PHẦN HAI LÀ NÓI VỀ NHỮNG NÉT PHÙ ĐƯỢC VẼ TRÊN GƯƠNG. 
Thông thường các bạn chỉ tiếp xúc với những tấm gương bán trên thị trường đã vẽ sẵn Tiên Thiên hay Hậu Thiên Bát quái.
Trong thực tế đó chỉ là một trong các dạng Linh phù, thường được các Pháp sư vẽ trên gương, hay bảng gỗ, kim loại...Những Linh phù này theo Huyền môn có tác dụng hóa giải những tác dụng xấu của ngôi nhà về nhiều mặt, đây cũng là một dạng Trấn yểm mà các Pháp sư hay dùng để hóa giải những cái xấu trong căn nhà.
Trong các dạng Linh phù ( Hay còn gọi là Bùa ), thì các Linh phù dùng Bát quái có công năng giải trừ những điều xấu rất mạnh. Chính vì vậy, các Pháp sư từ xưa đến nay sử dụng rất thông dụng trong việc Trấn yểm nhà cửa.
Trong việc trấn Trạch, người ta không chỉ sử dụng hai dạng Bát quái Tiên Thiên và Hậu Thiên cơ bản có bán sẵn trên Thị trường để Trấn yểm, mà người Pháp sư có học qua môn CẢM XẠ PHONG THỦY phải biết sử dụng cả 64 gương Bát quái khi Trấn trạch. Tuỳ theo Sơn và Hướng của từng ngôi nhà cụ thể, người ta có những QUẺ THU VÀ PHÁT của Bát quái để vẽ trên gương. Như vậy chúng ta thấy rằng, hai loại gương Bát quái vẽ sẵn bán trên Thị trường chỉ là hai trường hợp của 64 phương pháp Trấn trạch bằng gương Bát quái.
Ngoài ra,rất nhiều khi, người ta sử dụng gương để Trấn trạch mà không sử dụng Linh phù Bát quái, mà tùy theo sự xấu xẩy ra trong nhà, người ta vẽ các Linh phù khác nhau lên gương để Trấn yểm.

 14 / HÓA GIẢI HÌNH SÁT :
Trên thực tế, ít khi thấy một ngôi nhà hội đủ những mặt đúng và tốt theo Phong thuỷ. Do vậy, Phong thuỷ học đưa ra những phương pháp hoá giải hình sát, đó là những hình thế mang sát khí ở phía bên ngoài ngôi nhà. Sau đây là cách hoá giải những hình sát thường gặp.
1. Phản quang sát:
Đó là những ngôi nhà gần sông, hồ, biển, ao lớn, khi sáng hay chiều tà, ánh nắng mặt trời chiếu xuống mặt nước khúc xạ rồi lại hắt ánh nắng vào nhà làm cho đầu óc người ta tối tăm, tinh thần tán loạn, có khi gây bệnh nặng nguy đến tính mạng. Mặt nước như vậy được phong thuỷ gọi là “gương soi chậu máu”. Một dạng phản quang sát khác thường thấy ở đô thị, nơi nhiều nhà cao tầng, bên ngoài gắn nhiều kính và gương, khi ánh nắng mặt trời chiếu nghiêng, sẽ phản quang chiếu xạ vào nhà đối diện. Phản quang sát như vậy khiến người ở đó dễ mắc bệnh về máu hoặc gặp tai nạn do va đập. Hoá gỉai phản quang sát có thể dùng giấy nhám có keo dính thấu suốt dán lên kính nơi ánh nắng hay chiếu vào. Ngoài ra còn dùng hai xâu minh chú hồ lô treo ở hai bên góc cửa sổ. Nếu phản quang sát mạnh thì đặt thêm hai xâu tiền cổ ngũ để phối hợp với bạch ngọc minh chú. Nếu phản quang yếu thì không cần thêm hồ lô gỗ.
2. Liêm đao sát: 
Đó là đất bằng có hình đường cong mà lưng cong quay về phía nhà, có sức sát thương lớn gây đổ máu. Cách hoá gỉai: ở cát phương đặt một đôi ngựa đồng và ngũ đế bạch ngọc thì có thể hoá gỉai được.
3. Thương sát: 
Đây là một loại sát khí vô hình, phong thuỷ gọi là “nhất điều đạo lộ, nhất điều thương”, tức là có một hành lang thẳng và dài đối thẳng với cửa chính ngôi nhà. Ngoài ra ở ngoài cửa sổ có trồng trúc lá nhọn chĩa vào, cũng là thương sát. Lấy nhà mình làm trung tâm, thấy có đường thẳng hoặc dòng sông chĩa thẳng vào nếu khi mở cửa sổ ra quan sát được, cũng là thương sát. Ảnh hưởng: tai nạn chẩy máu, bệnh tật. Cách hoá gỉai: treo rèm hạt châu hoặc làm bình phong. Hoặc ở cửa sổ treo một đôi chuông gió kỳ lân hoặc đặt kim nguyên bảo.
4. Bạch hổ sát: 
Bạch hổ sát là bên phải nhà đang ở, hàng xóm phá thổ; hoặc bên phải nhà có một toà nhà xây lên hoặc phá đi. Ảnh hưởng đến bệnh tật. Cách hoá gỉai : cạnh tường bị xung sát đặt hai xâu ngũ đế bạch ngọc hoặc hai con kỳ lân cùng với minh chú hồ lô.
5. Thiên trảm sát: 
Nếu từ ngôi nhà mình ở nhìn ra ngoài thấy phía trước có hai toà nhà cao tầng rất gần mà giữa hai nhà cao tầng ấy hình thành một kẽ hở rất hẹp, nhìn vào như chiếc búa trời chém xuống tách làm đôi sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ và gây tai nạn. Hoá gỉai: đơn giản là đặt ngựa đồng hoặc một đôi kỳ lân đặt ở chỗ sát khí xông đến để ngăn sát.
6. Pháo đài sát:
Có những ngôi nhà nằm đối diện với một toà kiến trúc có hai khẩu pháo thật hoặc gỉa chĩa vào, gặp trường hợp này là phạm sát, khiến người ở tính khí cục cằn, do lợi mà mất nghĩa tình . Vì sát khí ở đây rất lớn, cho nên vật hoá sát cũng phải nhiều, như ở hai bên cửa sổ treo đôi chuông gió kỳ lân, ở giữa cửa đặt tiền cổ ngũ đế và 5 xâu minh chú hồ lô.
7. Khai khẩu sát: 
Khai khẩu sát là ngôi nhà có cửa chính đối diện với cửa cầu thang máy của một ngôi nhà khác; khi ta mở cửa nhà, thấy cánh cửa cầu thang máy mở ra, nhìn vào như một cái mồm to muốn nuốt mình. Trường hợp này có thể tốt mà cũng có thể xấu, như người xưa nói: “Xung khởi lạc cung vô giá bảo”, nghĩa là: khi đang gặp vận tốt thì có chuyện vui mừng, nhưng khi vận xuống thì người trong nhà gặp cảnh ốm đau hoặc tán tài. Hoá gỉai khai khẩu sát: cửa treo rèm, trên đó có minh chú quan âm, thêm một bộ tiền ngũ đế, nếu để kín trong chốt cửa thì càng có hiệu qủa.
8. Đao sát: 
Đó là hình vật giống như con dao chĩa thẳng vào nhà. Trong thành phố, nhiều toà nhà cao tầng có lối kiến trúc dài, một đầu nhà trông giống cán chuôi dao chĩa vào một khu nhà cao tầng khác, như ở Hồng Kông, trung tâm ngân hàng Hưng Cảng có đầu hồi giống cán dao chĩa vào phủ Thống đốc. Phạm sát này, phong thuỷ cho rằng dễ bị thương nạn. Hoá gỉai đao sát: ở trong nhà đặt long thần toạ đã đánh bóng thì hoá gỉai được sát này.
9. Xung sát: 
Hiện nay, do tốc độ xây dựng ngày càng nhanh và ngày càng nhiều ngôi nhà chọc trời , theo phong thuỷ học, người ở từ tầng lầu thứ 5 trở xuống dễ bị xung sát, vì hay bị cột đèn hoặc cây cối ngăn cản. Phạm sát này người ta dễ bị nhiễm bệnh. Hoá gỉai sát này dùng tiền cổ văn xương ngũ đế đã đánh bóng treo trong nhà; hoặc cửa đối diện với cây cối, cột điện treo rèm hạt châu hay bình phong.
10. Cô dương sát: 
Là khi nơi ở gần trạm biến thế điện, trạm bán xăng dầu, trạm bán gas, người ở nơi đây tính tình bất định, thô bạo, vì lợi mà vất bỏ tình nghĩa, trong nhà hay xô sát, cãi nhau. Hoá gỉai bằng cách lấy hồ lô gỗ đánh bóng và la bàn bát quái treo phía tường giáp các vật gây sát nói trên. Nếu chủ nhà ốm yếu, nhiều bệnh thì treo thêm hai xâu minh chú hồ lô cũng ở vị trí này.
11. Độc âm sát:
Là loại hình sát khi trước nhà cao tầng có nhà vệ sinh công cộng, hoặc nơi thu mua phế liệu, nơi gom rác. Nhà ở từ 5 tầng trở xuống thường phạm loại độc âm sát này. Nếu các trạm thu gom rác thải hay nhà vệ sinh càng gần nhà, thì độc âm sát càng nặng, ảnh hưởng đến sức khoẻ mọi hành viên trong gia đình, hao tài tốn của. Nếu độc âm sát đến từ bên ngoài, ở trong nhà đặt hồ lô gỗ và tiền cổ ngũ đế có thể hoá gỉai sát khí; nếu độc âm sát đến từ trong nhà, thì căn buồng cạnh nhà vệ sinh treo 4 xâu minh chú hồ lô.
12. Thanh sát:
Âm thanh có thể làm rung động lòng người, cũng có khi gây khó chịu cho con người, gây ảnh hưởng hoặc bệnh thần kinh, khi đó âm thanh trở thành thanh sát. Nhà ở gần sân bay, bến tàu, ga xe, đường sắt… đều có thanh sát. Thanh sát nếu xuất hiện từ phương Tây Nam( phương Khôn) là hung nhất. Trong trường hợp này, hoá sát bằng cách đặt hồ lô đồng hoặc hai xâu chuông gió kỳ lân ở phương Khôn để hút hung khí. Tuy vậy cũng không thể loại trừ âm thanh bên tai, cách thông thường phải đóng kín cửa nhà.
13. Cân trời xung xạ sát:
Là nơi ở gần công trường xây dựng quy mô lớn, cạnh đó có tháp cần trục cao để nâng vật liệu, khi mở cửa ra thấy cần trục là phạm cân trời xung xạ sát. ảnh hưởng của sát khí này thường gây bệnh mắt hoặc dễ bị thương. Hoá gỉai sát khí này bằng cách đặt ngay phía xung sát long thần toạ và tiền cổ ngũ đế phối với bạch ngọc.
14. Tiêm xạ sát:
Gần giống thương sát nói trên, chỉ khác có nhiều góc nhọn và chúng không tập trung chỉ một hướng nhất định. Ví dụ trong nhà đặt núi gỉa có đá nhọn, các tượng hay hình điêu khắc có các mũi nhọn chỉ vào đâu đó trong nhà. Khi mở cửa ra, nhìn thấy núi với vô số mũi đá nhọn chĩa vào, cũng gọi là tiêm xạ sát. Cách hoá gỉai: đặt chén liên hoa tại phương sát ở trong nhà và tiền cổ ngũ đế có thể không chế sát khí này.
15. Phản cung sát:
Là phía trước ngôi nhà có đường hình cong mà lưng cong lại đối diện với cửa nhà, phạm sát này dễ bị tai nạn hoặc tiêu tốn nhiều tiền của một cách vô ích. Nếu phản cung sát nằm ở phía Đông Tây ngôi nhà thì sức sát thương càng lớn; nếu xuất hiện ở cạnh một thôn xóm, cả thôn sẽ có nhiều người bị tai nạn, hao tốn tiền của. Nếu phản cung sát lại là khúc sông hay con ngòi, thì sức sát của nó càng lớn. Do vậy, khi mua nhà, người ta hết sức chú ý địa hình xung quanh. Hoá gỉai sát này dùng đồng tử vận tài đánh bóng để đặt trong nhà gỉai sát, đặt minh chú hồ lô và tiền cổ ngũ đế đặt ở phía phản cung chĩa vào nhà mình. Cũng có thể đặt một đôi kỳ lân đặt ở phương phạm sát để ngăn sát.
16. Hỏa hình sát:
Khi ngoài nhà có những vật thể nhọn sắc xung xạ chiếu đến, như: góc tường nhà cao tầng, góc đình, những pho tượng nghệ thuật dựng ở công viên…, ống khói từ 3 cái trở lên, tam giác, góc nhọn, góc rẽ của con đường chĩa thẳng vào nhà. ảnh hưởng của sát này rất mạnh, thường gây bệnh đường ruột, nhà dễ bị hỏa hoạn. Hoá gỉai bằng cách dùng gấu trắng bằng đồng để ngăn sát, hoặc dưới cửa treo tiền đồng để tăng sức mạnh hoá gỉai sát khí từ bốn phương.
17. Liêm trinh sát: 
Khi lưng nhà dựa núi, theo phong thuỷ là cát tướng, đó là “đằng sau dựa minh sơn là nắm quyền”. Nhưng núi dựa phải có cây cỏ tốt tươi, hình dáng thanh tú. Nếu núi dựa ít cây cối, đá lộ ra lởm chởm, phong thuỷ gọi là liêm trinh sát, làm cho tài năng người ở bị thui chột, không phát huy được. Nếu bản thân là công chức thì không có thực quyền, nếu có quyền thì cấp dưới không phục, hay chống đối. Hoá gỉai bằng cách: thường buông rèm cửa sổ, ở phưng phạm sát đeo hồ lô hoặc 2 xâu ngũ đế mịnh chú. Nếu nặng dùng 4 đôi gấu trắng để ngăn sát.
18. Thích diện sát:
Trường hợp trước cửa hoặc cửa sổ thấy sườn núi nhấp nhô, gọi là thích diện sát. Loại này làm cho người trong nhà dễ bị người khác đánh đập hoặc bị thương, hoặc dễ có hành vi phạm pháp. Hoá gỉai bằng cách treo hai xâu mịnh chú hồ lô hoặc tượng voi bằng đồng trước cửa hoặc cửa sổ.
19. Ngô công sát:
Khi mở cửa nhà hay cửa sổ nhìn thấy những vật thể như ống dẫn nước, cống dẫn nước bẩn, có ống chính và ống phụ trông như con rết. Ảnh hưởng: người ở hay bị đơm chuyện đặt điều, công việc không thuận lợi. Hóa gỉai bằng cách dùng một đôi gà đồng đặt ở phương phạm sát.
20. Đỉnh tâm sát:
 Là trước cửa hay cửa sổ có cột đèn, biển chỉ đường, biển quảng cáo, chúng sẽ tạo ra xung xạ vào nhà, làm cho người ở tính bất định , hay cáu gắt, dễ bị tai nạn. Hoá gỉai bằng cách dùng 2 xâu ngũ đế minh chú để chế sát.
Những quan niệm khống chế hình sát theo quan điểm của Phong thuỷ học nêu trên, chỉ có giá trị tham khảo .Tài liệu dienbatn sưu tầm của tác giả Quảng Tuệ .

15 / Nhà ở và phân gian .
Phong thuỷ học cho rằng, ngôi nhà tuy nằm trên mảnh đất đẹp về hình và thế, chọn phương và hướng đúng phong thuỷ, song việc bố trí phân gian các căn phòng trong khuôn viên căn nhà không đúng cách cũng gây bất lợi. Về vấn đề này, người xưa quan niệm như sau:
Nhà ở lớn người ít thì dương khí không đủ, thiếu sự phát triển, dần dần đi đến suy vi, nghèo khó. Theo quan điểm của xã hội hiện đại, điều đó có thể có căn cứ vì những lý do sau đây: chủ nhà mất thời gian và mệt nhọc phải quét dọn, làm vệ sinh các căn phòng; phòng không có người ở lâu ngày ẩm thấp, mốc meo, ánh sáng không đủ, không thông gió sẽ mau hỏng; về tâm lý học, không gian quá rộng khiến người ở cảm thấy không ổn định. Các nhà kiến trúc, môi trường đưa ra cách tính diện tích ở hợp lý theo số người như sau:
- Đối với nhà đông người, lấy tổng số tuổi của mọi người trong nhà nhân với 1m vuông chính là tổng diện tích quy ra mét vuông ngôi nhà gồm phòng khách, phòng ngủ bố mẹ, phòng ngủ con cái, phòng ăn, nhà tắm và vệ sinh. Như một gia đình có 4 người, chồng 35 tuổi, vợ 30, con 9 tuổi và 6 tuổi, tổng số tuổi của họ là 80, vậy diện tích ở thích hợp là 80 m vuông.
- Một cách tính khác là tính theo từng đầu người, như phòng ở bố mẹ là 50m vuông, con chưa đến tuổi đi học là 10m vuông, con học mẫu giáo, tiểu học, phổ thông trung học mỗi suất 15m vuông, học đại học trở lên và người già mỗi người 20m vuông. So với cách tính qua ví dụ trên, kết qủa như nhau.
Nhà ở nhỏ người đông theo bí truyền dương trạch là tướng tôn quý phồn vinh. Phong thuỷ cho rằng, ở trường hợp này do người đông nên dương khí sung mãn, sinh khí tràn đầy, báo sự phát triển dần thành giàu có, làm ăn phát đạt. Tuy vậy ở ngôi nhà này phòng khách phi rộng rãi thích đáng, các phòng khác phi thiết kế đặc biệt để có thể sử dụng hết công suất.
Nhà ở chiều sâu dài hơn chiều ngang. Chiều sâu nhà tính từ cổng trước đến cổng sau, chiều rộng tính từ bên trái đến tường bên phải. Người xưa cho loại nhà này là cát lành. Nếu chiều sâu không dài, tuy có khí phồn vinh nhưng không bền. Quan điểm này có cơ sở bởi Trung Hoa cổ xưa tiền thuế đất ở tính theo chiều rộng sát mặt đường; mặt khác chiều sâu nhà dài ngăn gian dễ. Để giữ được bí mật trong nhà thì các phòng đều ngăn lùi về phía sau là thuận nhất.
Nhà ở bề ngang dài hơn bề sâu. Theo Phong thuỷ học, nhà bề ngang rộng hơn bề sâu, người nhà dễ sinh bệnh, là hung. Ngày nay các ngôi nhà được xây dựng thường bị ảnh hưởng bởi địa thế đất mà người ta có. Sau khi xây dựng, tỷ lệ bề ngang gấp đôi bề sâu, Phong thuỷ cho là được. Song loại nhà này có nhược điểm làm cho từng thành viên trong nhà sống không độc lập, sắp xếp đồ đạc thường khó khăn.
Nhà ở ngăn 3-4 gian. Theo thuật số Trung Hoa cổ xưa phán đoán sự cát hung trong kiến trúc theo số gian của ngôi nhà: một gian là cát, hai gian không chướng ngại, 3-4 gian là hung, 5, 6, 7 gian là cát, 8 gian là hung, 9 gian là cát.
Gia đình hiện đại thông thường có ba loại không gian: không gian ngủ, bao gồm phòng ngủ của vợ chồng, của con cái là hai làm chuẩn, nếu có ông bà phải có phòng riêng, ngoài ra có nhà tắm nhà vệ sinh; không gian ăn uống bao gồm nhà bếp, nhà ăn; không gian dùng vào việc khác như phòng khách, phòng đọc sách, tiền sảnh, ban công, nhà kho, nhà xe…Theo ba loại không gian, loại nhà rộng để ngăn phòng như trên không phải ai cũng có. Vì vậy, người ta thường gộp lại dùng chung mấy loại không gian, như vậy nhà ngăn 3,4 gian là không đủ dùng. Nhưng nhà quá nhỏ ngăn ra nhiều phòng là không dễ, mà có được cũng không tiện. Có lúc người ta dùng chung phòng ăn, phòng khách dùng chung làm một, làm cho nhà hung trở thành nhà cát.
Gian giữa ngôi nhà khi trở thành không gian vô dụng. Theo gia tướng học, gian giữa ngôi nhà được cho là gian quan trọng nhất. Nếu gian giữa nhà bố trí thành giếng trời, nhà tắm, nhà vệ sinh hoặc thành một không gian vô dụng sẽ là hung tướng, quyền uy của chủ nhà ngày càng sa sút.
Gian giữa nhà tốt nhất nên bố trí là tiền sảnh để mọi người trong nhà có thể tụ họp chuyện trò, vui chi gỉai trí hoặc nghỉ ngi. Nơi đây có lúc dùng làm phòng tiếp khách hoặc phòng ăn. Gian này phải mở nhiều cửa sổ và cửa rộng để người ra vào dễ dàng, nên đặt ghế ngồi, ti vi, máy hát ở đây. Gian phòng này phải rộng, thoáng, độ cao từ 8 điệp (2,4m) đến 12 điệp ( 3,6m), phía Đông Nam cần có cửa sổ để thông gió.
Phòng ngủ của chủ nhà đặt giữa nhà. Trong gia tướng học, phương vị có liên quan rất nhiều đến sự cát hung cho người ở, nguyên điểm quan trọng nhất của phương vị là điểm trung tâm của nhà. Ngôi nhà là tượng trưng cho địa vị quyền thế của người chủ, nên gian giữa bố trí làm phòng ngủ của chủ nhà là thích hợp nhất.
Nhà ở hiện đại, phòng ngủ thường đặt ở một góc nhà, theo gia tướng học địa vị chủ yếu của chủ nhà không được tôn trọng, trong nhà hay xẩy ra tranh chấp, thiếu không khí thân mật và ấm áp trong nhà, dẫn tới người chủ nhà càng tìm cơ hội tìm niềm vui bên ngoài, không muốn về nhà, tính cách tiêu cực, gia đạo ngày càng suy vi, về cuối không cứu vãn nổi, gia đình tan nát.
Cửa chính và cổng thành một đường thẳng. Cổng và cửa chính ngôi nhà thành một đường thẳng, theo gia tướng học có sát khí, không lợi cho người ở. Về lý thông thường, cửa, cổng như vậy dễ để người ngoài dò xét nội tình bên trong căn nhà, cho nên người xưa làm cổng hơi lệch về trái hoặc về phải một chút để cho nhà kín đáo. Ngày nay đất chật người đông, nhiều nhà không có cổng, chỉ có cửa chính ra vào, Phong thuỷ khuyên nên làm cánh cửa đẩy vào trong, cửa sẽ kín đáo và an toàn hơn, còn có hàm ý như đón mời khách vào nhà, nhà sẽ nhiều khách. Nhà đông khách là đầy sinh khí, cuộc sống và làm ăn phát đạt. Người xưa có câu: “Môn đa khách đáo thiên tài đáo, gia hữu nhân lai vạn vật lai ”( cửa rộng thì tài nhiều, nhà nhiều người lui tới phát đạt giàu có).
Nhà ở không mở cửa sau. Theo sách cổ Lạc địa của Trung Hoa cổ đại, nhà dù lớn hay nhỏ mà không có cửa sau thì không nên ở, vì ở vợ chồng trước sau cũng ly tán, người mất người còn. Cái lý của quan niệm này do xưa có kẻ thù có khi đến gây hại, nếu không có cửa sau không có lối thoát hiểm. Của sau cũng có thể là cửa sổ, nếu không như cách nói của phong thuỷ sẽ gặp hung hoạ.
Theo quan điểm của vệ sinh phòng bệnh hiện đại, nhà có cửa trước không cửa sau không khí không lưu thông, không có sự thông gió, thấp khí nặng, ảnh hưởng tới sức khoẻ người trong nhà.
Nhà ở hướng về Nam các phòng đặt bên phía Tây, buổi sáng có đủ ánh sáng mặt trời, mùa Đông rất ấm áp, mùa hè gió nồm nam thổi tới, mùa Đông ngăn được gió lạnh từ Đông Bắc về, do vậy đây là ngôi nhà cát tướng.
Phòng ngủ và cửa chính thành một đường thẳng. Sự ngủ và phòng ngủ là quan trọng đối với cuộc sống mỗi người. Người xưa khi bố trí phòng ngủ bao giờ cũng suy xét hai điều kiện là an toàn và yên tĩnh, an toàn được đặt lên vị trí hàng đầu.Phòng ngủ gần cổng, gần cửa chính đều có sát khí, người xưa cho là dễ bị kẻ xấu quấy rối, đột kích.
Phòng ngủ và cửa chính thành đường thẳng, khách đến nhà phải đi qua phòng ngủ khiến người ta cảm thấy không an toàn, không tiện lợi nên ngủ không yên.
Phòng ngủ cạnh bếp. Người xưa không bao giờ đặt phòng ngủ cạnh bếp vì cho là hung. Trên thực tế, phòng ngủ cạnh bếp bị nhiễm nhiều tiếng ồn, vì nơi đây nhiều người qua lại, nói năng ồn ào, dễ bị hỏa hoạn. Phòng ngủ tốt nhất đặt nơi ngăn cách với bên ngoài; nơi ít người qua lại nhất và an toàn nhất. Ngoài ra phòng ngủ phải luôn thông gió mới đảm bảo sức khoẻ cho con người.
Từ ngoài nhìn thấy bếp trong nhà bếp. Theo gia tướng học, người ngoài cửa thấy được lửa khi bếp đang đun là không tốt, vì người xưa cho rằng lửa là thần linh nên không để ai nhìn thấy. Theo lý thông thường, nhà bếp như chỗ hậu sân khấu, theo quan điểm mỹ học, không nên để người ngoài nhìn vào nơi lộn xộn này. Phong thuỷ học còn cho rằng, nhà bếp sạch sẽ không mùi hôi thì mới làm ăn phát đạt, gia đình hưng vượng.
Nhà vệ sinh đặt ở giữa nhà. 
Theo lý thông thường, nhà vệ sinh đặt giữa ngôi nhà là thiếu mỹ quan, vì nó phá mất bố cục chung của ngôi nhà. Nhưng có người cho là tiện, vì mọi người ở các phòng khác nhau có thể vào đó mà không làm phiền nhau. Trong gia tướng học, người ta rất coi trọng vị trí trung tâm ngôi nhà, coi đây là vị trí tốt nhất cho chủ nhà, chỉ có thể đặt nhà tiền sảnh hoặc nhà khách là hợp lý nhất. Nếu nhà vệ sinh đã đặt ở giữa nhà, phải chú ý khâu vệ sinh, không cho mùi hôi bốc ra xung quanh. Xong cũng không nên đặt nhà vệ sinh ở giữa nhà, phong thuỷ cho như vậy là không cát.
Cầu thang đặt ở giữa nhà là không tiện, vì trong gia tướng học, giữa nhà là nơi quan trọng của chủ nhân, nên tốt nhất là phòng ngủ của chủ nhà; cầu thang đặt ở giữa nhà, khác nào cắt đôi ngôi nhà, làm mất đi vẻ hoàn chỉnh ngôi nhà đó, phong thuỷ cho như vậy sẽ ảnh hưởng tới hạnh phúc của toàn gia. Việc bố trí cầu thang phải căn cứ vào tình hình các phòng ở tầng trên mà quyết định, thường nên đặt ở sát rường. Nếu phòng khách đặt ở tầng trên thì cầu thang nên đặt gần cổng để khi khách đến nhà đi thẳng lên phòng khách. Nếu phòng ngủ đặt ở các tầng trên thì cầu thang nên đặt ở góc cửa chính, hoặc cạnh nhà ăn, nhà bếp.
Cửa sổ đặt ở hướng Bắc ngôi nhà, người xưa cho rằng kinh nguyệt của phụ nữ trong nhà không đều. Đông y cho rằng, môi trường lạnh lẽo cũng gây bệnh phụ nữ. Ở Việt Nam, cửa sổ đặt hướng Bắc, gió mùa đông Bắc lạnh lẽo sẽ thổi vào nhà, khiến ở trong nhà rất khó chịu, nhất là đối với phụ nữ, nên dễ gây bệnh cho họ. Nếu phải mở cửa sổ hướng Bắc,thì nên mở cửa sổ nhỏ đủ để thông gió; cửa nên làm hai lớp kính để chống lạnh.
Nhà hướng Tây, mở cửa sổ hướng Nam, theo bí tryền của phong thuỷ là cát,nhất là mở cửa sổ lớn. Tuy vậy cũng nên một cửa sổ nhỏ hướng bắc để thông gió, làm cho mùa hè đến thì mát.
Nhà bếp hướng Đông. Theo phong thuỷ học, nhà bếp hướng về Đông hoặc Đông Nam là cát. Cái lý ở đây theo học thuyết ngũ hành: đốt mộc thì sinh hỏa, mộc thuộc Đông, hỏa thuộc Nam, sự nhóm lửa của bếp là có sự sinh, cho nên nhà bếp ở hai hướng này là cát. Theo quan điểm môi trường sinh thái, nhà bếp ở hai hướng nói trên là tốt. Buổi sáng nhiệt độ thấp nhưng được ánh sáng mặt trời chiếu vào, buổi chiều nhiệt độ cao lại trở thành nơi mát mẻ, việc bảo quản thức ăn và thực phẩm dễ dàng.
Xây thêm nhà phụ ở hướng Tây nhà chính. Theo phong thuỷ học, nếu xây thêm nhà phụ ở phía Tây nhà chính là dấu hiệu phồn vinh của gia chủ, nếu có hành lang liên kết hai nhà lại thì được cát tướng. Tuy vậy, khi xây nhà phụ, điều đầu tiên khi chọn hướng không cản trở nhà chính. Vì nếu nhà phụ đặt ở phía Đông hoặc Nam sẽ cản trở sự thông gió và ánh sáng của nhà chính, nếu đặt ở phía Bắc thì sẽ bị nhà chính che chắn hòan toàn, thông gió không tốt. Nếu nhà chính và nhà phụ có hành lang thông nhau thì không phải đi qua các phòng khác, không ảnh hưởng tới sự kín đáo của phòng khác, điều mà phong thuỷ học cho là không tạo ra sát khí.
Trên đây là cách phân gian trong một ngôi nhà theo phong thuỷ học, quan niệm này chỉ có giá trị tham khảo.
Tài liệu dienbatn sưu tầm của tác giả Quảng Tuệ

16 / NHỮNG LỐI KIẾN TRÚC GÂY TAI HẠI .
Ngày nay, khi xây dựng những công trình dân sinh, người ta thường thiết kế theo trường phái công năng, tạo điều kiện tiện dụng tối đa cho người ở. Theo Phong thuỷ học, nhiều khu nhà theo lối kiến trúc này, cũng gây những sự cố về tài vận và sức khoẻ cho người ở. Sau đây là những lối kiến trúc thường gặp, dưới góc nhìn của phong thuỷ học là chưa ổn.
Hành lang giữa nhà, chủ sẽ phân ly
Trong các ngôi nhà cao tầng hiện đại, thang máy và hành lang thường ở trung tâm nhà, các phòng tỏa ra 4 hướng, 6 phương…, nhiều trường hợp hành lang đặt giữa nhà, Phong thuỷ học cho rằng, đó là lối thiết kế gây xấu nhất cho người ở.
Có những đơn nguyên tương đối lớn, bước vào cửa đã là phòng khách, phòng ăn, cửa chính đối thẳng với hành lang mà độ dài hành lang bằng nửa diện tích nhà. Tình hình càng bất lợi hơn đối với người ở, khi nhà vệ sinh lại ở hai bên hành lang. Nếu kiến trúc nhà ở như vậy, chủ nhà thường dễ phân ly hoặc bệnh tật, vận thế cũng đi xuống. Phong thuỷ học cho rằng, để hoá gỉai sát trong trường hợp này, tốt nhất là dùng rèm treo cửa bằng vỏ ốc hến.
Cái xà cái cột gây bệnh
Trong kiến trúc hiện đại xưa và nay khác nhau về sử dụng vật liệu, tạo dáng… mà còn khác nhau về cái cột cái kèo (hay xà). Cột kèo của người Việt Nam, Trung Hoa xưa phần lớn là hình tròn, nếu có dùng hình vuông thì bao giờ người ta cũng vuốt bỏ góc nhọn đi. Kiến trúc hiện đại, cột bằng bê tông, hầu như là hình vuông. Về kết cấu xây dựng không thể không có cột xà, Phong thuỷ học cho rằng, những cột phải dấu trong tường, không lộ ra, vị trí dầm cần tính toán hợp lý cho bố trí nội thất. Với loại nhà này, vị trí đặt giường ngủ cần cân nhắc, nếu nơi ngủ bị xà (hoặc kèo) đè, sẽ sinh ốm đau, vận thế đi xuống.
Làm ăn lụn bại vì hướng cửa sai
Phong thuỷ học cho rằng, phưng vị của cửa là chủ sát hung hoặc cát đối với chủ hộ, do vậy khi xây nhà hoặc mua nhà, người ta rất chú ý điều này. Một nữ doanh nhân tuổi Mùi, người Hồng Kông ngoài 30 tuổi đang làm ăn phát đạt, có tiền mua căn nhà, sau khi về ở, bỗng dưng làm ăn đi xuống. Nhiều hợp đồng mà chị đã ký kết bỗng dưng bị huỷ bỏ. Linh cảm thấy việc làm ăn của bản thân có liên quan đến ngôi nhà, mời thầy Phong thuỷ đến xem xét. Thầy Phong thuỷ phát hiện cổng chính ngôi nhà đặt không đúng phương vị, nên sự kinh doanh của chị đi xuống. Chị tuổi Mùi, nhưng cổng chính lại ở Thân Sơn; nhà toạ Dần hướng Thân không đẹp, khí khẩu hỗn tạp. Cửa sổ mở ra ở phương Đông và Đông Bắc, niên sát nằm ở Mão Sơn, phối hợp niên vận gọi là điệp sát (sát kép). Do vậy nữ doanh nhân này suy thoái trong làm ăn do phương vị cửa không nạp vượng. Theo lời khuyên của thầy phong thuỷ, trước cửa sổ phương vị chính Đông, đặt một chậu nước nuôi cây cảnh, ở cổng chính phía trong treo một bức rèm kết bằng vỏ ốc hến để hy vọng có thể giảm bớt điều không lợi. Sau không đầy một tháng, nữ doanh nhân làm ăn có khá lên, nhưng thầy Phong thuỷ vẫn khuyên nên đổi nhà.
Về chuyện ấy…
Phong thuỷ học cho rằng, vị trí phòng ngủ trong nhà có liên quan đến quan hệ giới tính của gia chủ; như phạm hay không phạm đào hoa, có hay không lãnh cảm và bất lực giới tính. Khái niệm đào hoa ở đây chỉ ngoài người bạn đời chính thức, còn có quan hệ với người bạn khác giới nữa.
Trong 24 Sơn hướng của phong thuỷ học, nếu chủ nhân có phòng ngủ ở Mão Sơn và Dậu Sơn dễ phạm đào hoa, còn nằm ở vị trí Tý Sơn và Ngọ Sơn là cũng có đào hoa, nhưng không mạnh mẽ. Về vấn đề này, phong thuỷ học còn cho rằng, phải xem xét thêm bản mệnh của gia chủ. Trong môn tử vi, người có mệnh thân ở Mão Dậu thì có đào hoa, nếu phòng ngủ lại nằm ở Mão Sơn, Dậu Sơn thì đào hoa càng mạnh; người tương khắc với Mão Sơn, Dậu Sơn thì mắc chứng lãnh cảm giới tính hoặc bất lực tình dục. Những người này muốn khôi phục lại giới tính trời sinh, hẳn phải bố trí giường ngủ ở Mão Sơn , Dậu Sơn.
Phong thuỷ học cho rằng, người bản mệnh đào hoa, phương vị phòng ngủ lại ở Mão Sơn, Dậu Sơn thì nên đổi vị trí phòng ngủ, nếu không, có người “ nằm ngủ trên giường mà lòng tơ tưởng ”, còn ông chồng thì dễ biến thành “người sâu đo”. Khái niệm “người sâu đo” do dân gian Trung Hoa cổ đại cuối Triều Minh chỉ những quan đại thần giầu có, sinh hoạt xa xỉ, rất nhiều nàng hầu thê thiếp; suốt ngày đêm uống thuốc kích dục để cùng thê thiếp hoan lạc, nhằm quên đi nỗi sắp mất nước về tay nhà Mãn Thanh. Vì dâm dục quá độ, có quan đại thần chết, nhưng có người không chết được, xưng cốt rã rời, người co rúm lại, không duỗi thẳng ra được, giống hình con sâu đo, người dân đương thời gọi họ là “người sâu đo”.
Phong thuỷ học còn cho rằng, trong thế giới đương đại, người bản mệnh đào hoa, giường ngủ ở Mão Sơn hoặc Dậu Sơn, nhà lại ở gần đền miếu, khí âm sát ở đây nạp vào nhà, ông chủ nhà cũng sẽ trở thành “người sâu đo” nếu không đổi Phong thuỷ.
Không nên ở nhà tầng lầu có góc nhọn
Kiến trúc hiện đại có nhiều ngôi nhà có những cụm nhà cao tầng liên kết với nhau, ở mỗi tầng lầu có tới 6 đến 8 đơn vị, trên mặt phẳng mỗi tầng lầu nhìn ra như hình quạt; cầu thang máy và hành lang đều đặt ở giữa lầu có thể toả ra 6 phương 8 hướng. Cách thiết kế này tạo ra từng bộ phận nhô ra một góc, làm cho ánh sáng và không khí vào từng căn hộ đầy đủ. Đứng về góc độ phong thuỷ mà nói, vì các hộ chĩa ra 6 phương tám hướng, nên không đạt được “4 bình 8 ổn”, mà mỗi căn hộ có một phòng với một góc nhọn. Những người sống trong ngôi nhà ấy luôn cảm thấy mơ hồ, trong lòng lúc nào cũng buồn bực, sức khoẻ gỉam dần, gia cảnh sa sút. Xu hướng xấu nặng hay nhẹ, còn tuỳ thuộc vào mệnh của chủ nhân , hướng và phương của ngôi nhà.
Mua nhà cũng nên chọn tầng
Phong thuỷ học cho rằng, khi mua nhà ở chung cư, ngoài việc chọn hình thế ngôi nhà có dấu hiệu cát, còn nên chọn tầng lầu họp với bản mệnh của gia chủ. Nguyên tắc mà phong thuỷ đưa ra là: nếu số tầng lầu ngũ hành sinh chủ mệnh là tốt nhất, nếu khắc chủ mệnh là không tốt. Nếu số tầng lầu ngũ hành bị chủ mệnh khắc cũng tốt vào loại trung bình; ngũ hành chủ mệnh với ngũ hành tầng lầu như nhau thì giúp chủ mệnh nên cát. Ví dụ người sinh năm Hợi, hành Thuỷ, nên ở tầng 1 hoặc 6 (đều thuộc thuỷ); tầng 4 và 9 thuộc kim, kim sinh thuỷ là cát, ở cũng tốt; cũng có thể ở tầng 2 và tầng 7 (đều thuộc hoả), vì thuỷ khắc hoả; không nên ở tầng 5 hoặc 10 ( đều thuộc thổ), vì thổ khắc thuỷ.
Về mối quan hệ tầng lầu với ngũ hành, được người xưa nêu như sau:
Tầng 1 và 6 thuộc thuỷ; tầng 3 và 8 thuộc mộc; tầng 4 và 9 thuộc kim; tầng 5 và 10 thuộc thổ. Tầng 10 thuộc thổ, tầng 11 thuộc thuỷ, tầng 12 thuộc hoả, tầng 13 thuộc mộc, tầng 14 thuộc kim, tầng 15 thuộc thổ, tầng 16 thuộc thuỷ, tầng 17 thuộc hoả, tầng 18 thuộc mộc, tầng 19 thuộc kim, tầng 20 thuộc thổ…
Về tuổi theo ngũ hành như dịch học nêu ra như sau:
Tý hành thuỷ, Sửu hành thổ, Dần hành mộc, Mão hành mộc, Thìn hành thổ, Tỵ hành hoả, Ngọ hành hoả, Mùi hành thổ, Thân hành kim, Dậu hành kim, Tuất hành thổ, Hợi hành thuỷ.
Về mối quan hệ tương sinh, tương khắc như sau:
Tương sinh: Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Mối quan hệ tương khắc như sau: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim…
Vị trí nhà vệ sinh trong khuôn viên ngôi nhà
Trong gia tướng học không nói rõ nhà vệ sinh đặt ở phương vị nào thì tốt, chỉ nhắc nhở cần tránh đặt giữa nhà, phía Đông Bắc hoặc phía Tây Nam. Nếu đặt ở phía Bắc thì từ thu phân đến xuân phân không nhìn thấy ắnh mặt trời, khí hậu ẩm lạnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ. Phong thuỷ học còn cho rằng, vị trí nhà vệ sinh không đặt nơi trùng với bản mệnh. Ví dụ người sinh năm Tý và Hợi ( đều thuỷ), không đặt nhà vệ sinh phương Bắc, vì Bắc thuỷ; người sinh năm Dậu và Thân ( đều là kim ), không đặt nhà vệ sinh phương Tây, vì Tây kim…
Trên đây là một số trường hợp thường gặp đối với một ngôi nhà, với nơi ở mà phong thuỷ học nêu ra, quan niệm này chỉ có giá trị tham khảo .
Tài liệu dienbatn sưu tầm của tác giả Quảng Tuệ

17 / LƯU Ý HƯỚNG BÀN LÀM VIỆC :
Thông thường chủ một cơ sở làm ăn,buôn bán cần phải đặt bàn làm việc của mình và của các nhân viên dưới quyền theo hướng tốt của cung Mạng người chủ.Ta cũng cần lưu ý rằng :Các cung quan trọng như cung Danh vọng (Phương Nam );cung Sự nghiệp (Chánh Bắc );Cung Phú quí,Tài lộc (Đông Nam );cung Tri thức (Đông Bắc ) cần phải xác định cho chính xác để làm cho các khu vực đó thêm sáng sủa ,sinh động.Khi cần phát triển một vấn đề nào đó ta làm cho cung đó nổi bật lên bằng cách thắp đèn,treo Phong linh hay quả cấu thủy tinh,đặt hồ cá cảnh vào vị trí tương ứng của cung đó.
Bàn làm việc của chủ nhân cần phải có chỗ dựa đằng sau (Sơn ),như là dựa lưng ghế vào tường. Ghế ngồi không được quay ra cửa sổ,cửa ra vào,không được để các góc nhọn như cạnh bàn,tủ,góc tường đâm vào vị trí ngồi.Chỗ ngồi của người Chủ không được có đường đi đâm trực diện vào.Khi làm việc,từ chỗ ngồi của mình,người Chủ phải bao quát được toàn bộ cơ sở của mình và không để người khác nhòm ngó vào chỗ làm việc của mình.
Khi bố trí bàn làm việc,Chỗ ngồi của Chủ nhân phải chiếm được các phương vị tốt và tuyệt đối không để bất cứ ai ngồi vào vị trí đã chọn của mình.Nên bố trí làm sao khách ngồi vào cung Quí nhân là tốt nhất.Có như vậy Chủ nhân mới được giúp đỡ,hậu thuẫn ,nâng đỡ.Nếu có điều kiện nên treo sau lưng chỗ ngồi các bức tranh Long –Hổ.
18/ Thế ngồi trong Phong Thủy của Bạn.
* Bất cứ một cuộc họp nào , bạn nên ngồi ở vị trí góc Đông Nam của căn phòng hay cái bàn để chiếm giữ cung Tài .
** Khi Bạn kinh doanh một thương nghiệp, Bạn có những buổi họp thương mại, hãy cố gắng chọn một chỗ ngồi tốt cho riêng Bạn (nghĩa là những hướng tốt theo phong thủy của Bạn). Nếu có khó khăn khi Bạn không thể chọn chỗ ngồi theo ý ý mình muốn, thì hãy xoay người về hướng tốt đó hay quay mặt về hướng tốt đó khi phát biểu háy nói chuyện.
** Khi Bạn phải đi ra ngoài dự một buổi ăn tối thật quan trọng để tạo một cơ hội tốt, Bạn hãy ngồi đối diện với hướng Diên Niên. Hướng này sẽ làm cho Bạn có cảm giác tốt và may mắn.
** Khi có một cuộc phỏng vấn cho nghề nghiệp hay một buổi họp mặt quan trọng, hãy ngồi day mặt về hướng Sinh khí. Hướng này sẽ gia tăng may mắn và thành công cho Bạn .
Như vậy chỗ ngồi họp của bạn cần lưu ý tới Vị ( tọa độ của chỗ ngồi trong phòng ) và Hướng mặt của mình .
19 / Ảnnh hưởng của đòn dông :
Theo khoa Phong thủy thì cái đòn dông chính thường tạo ra một lực tác động mạnh mẽ đối với những vật thể nằm trên đường thẳng trực chiếu của nó, nơi nào bị trực chiếu thì nơi đó bị ảnh hưởng nặng nề nhất đối với những người ở trong đó, ví dụ chiếu vào phòng ngủ thì người nào ở trong phòng mới bị ảnh hưởng, nếu chiếu vào phòng làm việc thì người ngồi làm việc bị tác hại. Đặc biệt chiếu vào cửa chính ra vào thì cả gia đình đều bị ảnh hưởng chứ không riêng gì chủ gia đình . Riêng về cái đòn dông có rất nhiều cách sửa chửa hoặc là treo một cái bát quái có gương phản chiếu ở chính giửa treo ngay trước cửa nhà. Một cách khác làm một mái hiên che nắng hay là giàn cây leo ngay trước cửa nhà che khuất tầm mắt mình đối với cái đòn dông trên cao của nhà đối diện cũng tránh được ảnh hưởng xấu. 

( Xin xem tiếp bài 4 - dienbatn ).

TỔNG HỢP CÁC BÀI VIẾT 
PHONG THỦY LUẬN
Tác giả: Điện Bà Tây Ninh

1  |  2  |  3  |  4  |  5  |   6  |   7  |  8  |  9  |  10  |  11  |  12  |  13 |  14  |  15  |  16  |  17  |  18  |  19  |  20  |   21  |   22  |  23  |  24  |  25  |  26  |  27  | 28 |  29  |  30  |  31  |  32  |  33  |  34  |  35  |   36  |   37  |  38
Xem tiếp…

PHONG THỦY LUẬN . BÀI 2.

23:47 |
Phong Thủy Luận.

TRẠCH HÌNH
Dung huyệt: 1) Chỉ nền đất của nhà ở, thôn xóm, thành trấn (thành thị, thị trắn), gọi là huyệt trường của dương trạch, điểm dương huyệt" tức là xác định nền đất và phạm vi của một địa chi nào đó. 2) Mộ huyệt có phân ra âm và dương; âm long mà kết huyệt âm thì chủ bị nói xấu, phá hại gia sản; dương long mà kết huyệt dương, chu sự sinh li tử biệt. Phân biệt âm dương thì căn cứ vào vị trí âm hay dương mà xác định.
Xem tiếp…

Phong Thủy Luận - Bài 1

23:39 |
PHONG THỦY LUẬN

A/ PHẦN MỞ ĐẦU ;
Thân gửi các bạn trên Diễn đàn Phong thủy.
Từ trước tới nay,phần lý thuyết Phong thủy được viết rất nhiều,hằng hà sa số cuốn sách đã được in hoặc lưu truyền trong dân gian.Tuy viết rất nhiều,nhưng vấn đề lý thuyết của bộ môn Phong thủy,vì không được dựa trên một căn bản Lý thuyết thống nhất và triệt để nên tùy theo điều kiện cụ thể mà phát triển ra rất nhiều Môn phái Phong thủy,có lý luận và cách thực hiện nhiều khi trái ngược lẫn nhau,khiến người đời sau không làm sao hiểu được và tính chất Thần bí cứ dần dần xen vào và từ đó Thuật Phong thủy trở nên một cái gì đó Huyền bí,khó hiểu và được coi là Mê tín dị đoan.
Việc tìm lại cội nguồn Lý thuyết của bộ môn Phong thủy nói riêng và Lý thuyết của Dịch lý Đông phương nói chung,là một vấn đề rất thiết yếu.Công việc này đòi hỏi rất nhiều thời gian nghiên cứu,sưu tầm,nhận định ,tập hợp và sắp xếp lại.dienbatn không dám có tham vọng làm việc đó,chỉ xin làm viên đá nhỏ lót đường cho sự nghiên cứu của các bạn.Nếu thành công thì thành quả đó xin tặng lại các bạn ,hoặc nếu chẳng đi đến đâu cả thì âu cũng là số Trời,và những gì có được xin các bạn cứ dùng làm tư liệu để tiếp tục những bước sau này.Mọi việc đều phải có sự khởi đầu và như người xưa nói :"VẠN SỰ KHỞI ĐẦU NAN ".Trong bài viết này dienbatn xin được công bố,những bài viết,những ý tưởng của một số Cao nhân ẩn danh,không muốn xuất hiện. Đúng hay sai còn phụ thuộc nhiều yếu tố, song dienbatn xin kính cẩn cảm ơn các vị Tiền bối đã chỉ giáo. dienbatn chỉ là người trích dẫn,sắp xếp lại cho thứ tự và mạch lạc hơn,ngoài ra do sự kém cỏi thô lậu, không có ý tưởng gì hay nên xin các bạn cũng đừng chấp.Nào ,bây giờ chúng ta bắt đầu khởi hành.


1/LỜI NÓI ĐẦU :Theo sử sách còn truyền lại,từ khi Phục Hy lập ra Bát quái định Thiên đồ,xa thì trông Thiên văn,đại Địa,gần thì trông ở người,vật,toàn đồ Vũ trụ quan bao gồm Thiên -Địa -Nhân.
THIÊN :Tinh ba là Nhật -Nguyệt -Tinh.
ĐỊA :Tinh ba là Thủy -Phong -Hỏa.
NHÂN :Tinh ba là Tinh -Khí -Thần.
Tất cả các thành phần trên gọi chung là Đại đạo,mỗi thành phần đều sống động.
THIÊN ĐẠO :Là sự vận hành các phần tử Thiên hà,Thiên hệ,Tinh tú châu lưu an toàn trong khoảng không theo một trật tự nhất định.
ĐỊA ĐẠO :Thủy -Hỏa-Phong châu lưu khắp nơi nhằm sinh hóa và nuôi dưỡng vạn vật.
NHÂN ĐẠO :Là cái đức lớn của Thiên -Địa,Tinh khí tươi nhuận thì Thần mới minh.
Vũ trụ toàn đồ luôn sống động,nếu ngưng ,nghỉ tức là hoại ,là diệt.
Một Cảnh giới hài hòa tạo được sự an lạc,hạnh phúc cho mọi người tức là cả ba thành phần phải tốt tương ứng thể hiện đủ đức tính của Đại đạo.Vì thế ,các bậc Tiền nhân luôn có ước muốn tạo cho mình và cộng đồng một Cảnh giới Chân -Thiện -Mỹ,họ chiêm nghiệm ,học hỏi từ Thiên nhiên địa vật,tạo nên nền tảng Kiến trúc .Nhân giới luôn hài hòa với Tam tài (Thiên văn,Địa thế,Nhân sinh ),nên gọi là thuật Phong thủy.Phong thủy cũng dựa vào trên nền tảng Quái đồ,Hà Lạc.


NHÂN THỂ LÀ MỘT TIỂU VŨ TRỤ.

Xem tiếp…

ĐỀN THIÊNG CỬA SÓT. BÀI 3.

20:02 |
THỜI ĐIỂM PHẬT GIÁO TRUYỀN VÀO VIỆT NAM .
Thiền sư Lê Mạnh Thát đã viết : " Vậy nhà sư Phật Quang này xuất hiện ở cửa Sót vào thời nào? Qua những chứng cớ ngoại tại, gián tiếp vừa kể trên, tối thiểu ta biết là những gì Lĩnh Nam trích quái ghi lại chưa hẵn là không xảy ra, hay không có từ xưa. Cụ thể là truyện về truyền thuyết Trăm Trứng. Không kể các dã sử hay những thông tin bên ngoài, cứ theo chính sử Trung Quốc cũng đã ghi là có các chính quyền phương nam đi thông qua nước ta để đến phương bắc, đó là chính quyền nước Hoàng Chi. Bình Đế Kỷ trong Tiền Hán thư 12 tờ 4a 3 ghi: “Nguyên thuỷ thứ 2 (năm thứ 2 sdl), mùa xuân, nước Hoàng Chi dâng tê giác và bò”. Rồi đến quyển 28 hạ, Tiền Hán thư tờ 32b 2 – 3, nơi chuyện Vương Mãng, cũng ghi: “Trong khoảng Nguyên thuỷ (1 – 6 sdl) của Bình đế, Vương Mãng phụ chính, muốn làm rạng rỡ uy đức của mình đã gửi biếu hậu hỹ vua Hoàng Chi khiến cho gửi sứ cống tê giác và bò sống”. Nước Hoàng Chi này, cứ Tiền Hán thư 28 hạ, tờ 32b 3 – 5, còn ghi tiếp: “Từ Hoàng Chi đi thuyền có thể tám tháng đến Bì Tôn, rồi đi thuyền hai tháng có thể đến biên giới Tượng Lâm của Nhật Nam. Phía nam Hoàng Chi có nước Dĩ Trình Phất. Dịch sứ của Hán từ đó về”.
Thế rõ ràng Hoàng Chi là một nước rất xa nước Hán, đi thuyền đến mười tháng mới đến. Ghi nhận đầu tiên của chính sử Trung Quốc về sự liên hệ giữa chính quyền Trung Quốc và chính quyền Hoàng Chi là Hoàng Chi ở phía tây nước ta và phải đi thông qua nước ta mới đến Trung Quốc được. Hoàng Chi là nước nào? Có khả năng Hoàng Chi đây là một trong những nước ở Ấn Độ. Cho nên, nói cách khác, từ những năm đầu Dương lịch, quan hệ chính thức giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã có về đường biển và đã được chính sử Trung Quốc ghi lại. Sau đó, từ thế kỷ thứ hai trở đi thì quan hệ giữa An Độ và Trung Quốc đã được ghi rất rõ, cho nên khả năng trước khi có quan hệ chímh thức trên bình diện chính quyền thì phải có quan hệ nhân dân; tức quan hệ giữa hai dân tộc phải đi với nhau rồi hai chímh quyền mới đi theo, hoặc để bảo trợ quyền lợi của dân tộc mình hoặc để thiết lập quan hệ ngoại giao. Cho nên khả năng những thương thuyền buôn bán của người Ấn Độ đã đến Trung Quốc trước thời Vương Mãng từ lâu là một sự thật.

Xem tiếp…

ĐỀN THIÊNG CỬA SÓT. BÀI 2.

19:45 |
Thực ra chuyến đi thăm Cửa Sót lần này của dienbatn là lần thứ hai , lần trước cũng đi cùng Lê Phong . Mục đích chính hai chuyến đi Cửa Sót của dienbatn là tìm lại những dấu vết của truyền thuyết Tiên Dung và Chử Đồng Tử đã thành Đạo tại đây, để nối liền mạch lịch sử về việc hình thành Đạo của Việt Nam . Theo tài liệu của Thiền sư Lê Mạnh Thát về truyền thuyết nhà sư Phật Quang như sau :
" Sư Phật Quang & di tích đầu tiên của Phật Giáo VN.
Trả lời câu hỏi này, ta may mắn có một tài liệu viết gần cùng thời với Thiện Uyển Tập Anh là Lĩnh Nam Trích Quái. Truyện Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại việc Chữ Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (cũng có bản viết là Quỳnh Vi) truyền dạy giáo lý Phật giáo. Xưa nay Lĩnh Nam Trích Quái thường được xếp vào loại truyện thần thoại hay huyền sử. Thậm chí bộ Việt Nam Hán văn Tiểu Thuyết Tùng san_1, tập I, mới xuất bản gần đây cũng làm thế. Tuy nhiên, khi đi sâu vào nghiên cứu nội dung của Lĩnh Nam Trích Quái, ta mới thấy rõ Lĩnh Nam Trích Quái không chỉ đơn thuần là tập hợp những chuyện thần thoại, thậm chí những chuyện thần thoại hoang đường. Trái lại, nó chứa đựng nhiều sự kiện có thực, mà trường hợp núi Quỳnh Viên của chúng ta đây là một thí dụ cụ thể. 
Núi Quỳnh Viên này, những người chủ biên Thơ văn Lý Trần đã chú thích là: "Một quả núi trong truyện thần thoại". Dẫu thế, nếu chịu khó đọc Minh lương cẩm tú do Lê Thánh Tông viết về 13 cửa biển của đất nước ta trong khi tiến quân chinh phạt Chiêm Thành vào năm 1470, thì ta gặp bài thơ thứ 7, nói về Nam giới hải môn lữ thứ, trong đó có 2 câu: Di miếu man truyền kim Vũ Mục
Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên.
Dịch: Di miếu còn truyền nay Vũ Mục.
Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên
Vũ Mục đây tức chỉ tướng Lê Khôi, cháu ruột của Lê Lợi. Năm Thái Hòa thứ 2 (1444) đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, khi trở về đến cửa biển Nam Giới thì mất. Dân thương nhớ, lập đền thờ tại cửa biển này. Cửa biển này còn được gọi nôm na là cửa Sót. Còn núi Quỳnh Viên thì nằm ở phía Nam cửa bể này và từ thời Lê Thánh Tôn đã được xác nhận là một danh sơn, tức một hòn núi có tiếng tăm của đất nước. Và tiếng tăm này là có từ xưa, chứ không phải đợi đến thời Lê Thánh Tôn, tức từ năm 1460 trở đi mới có. Ngay cả khi ta đồng ý với Lê Quí Tôn trong Toàn Việt thi lục và Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển và xếp các bài thơ về 13 cửa biển này vào loại "vô danh thị", thì việc nói "ông Vũ Mục ngày nay" (kim Vũ Mục) và "núi Quỳnh Viên thưở xưa" (cổ Quỳnh Viên) vẫn không đánh mất ý nghĩa thời điểm của bài thơ. Lý do nằm ở chỗ nếu đã nói Lê Khôi là ông Vũ Mục thời nay, và Lê Khôi mất vào năm 1444, thì rõ ràng tác giả nó cũng phải sống vào thời của Lê Khôi này, tức khoảng từ 1444 trở đi hay không lâu sau đó. 
Nói thẳng ra, vào thế kỷ thứ XV, khi Kiều Phú và Vũ Quỳnh hiệu đính và cho ra đời hai bản Lĩnh Nam Trích Quái khác nhau, Quỳnh Viên đã thật sự là một danh sơn, một ngọn núi nổi tiếng đối với dân ta thời đó và trước kia. Nó dứt khoát không phải là một ngọn núi thần thoại, càng không phải là một ngọn núi không có địa điểm cụ thể tại đất nước ta. Nó quả là một ngọn núi nằm tại cửa Sót. Và trên núi Quỳnh Viên này còn có ngôi chùa cổ. Bản Lĩnh Nam Trích Quái mà ta có ngày nay thì hoặc do Kiều Phú kiểu chính lại vào năm 1490, hoặc do Vũ Quỳnh san định vài năm sau đó, vào năm 1493, từ một bản Lĩnh Nam Trích Quái của Trần Thế Pháp đời Trần. Như vậy, nếu Lĩnh Nam Trích Quái mà ta có ngày nay nói tới núi Quỳnh Viên, thì dứt khoát núi Quỳnh Viên này phải có một địa chỉ cụ thể. Vì thế, khi Chữ Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang truyền dạy đạo Phật tại núi Quỳnh Viên, ta có thể chắc chắn sự việc này đã xảy ra tại cửa biển Nam Giới hay cửa Sót. Ta có thể đặt vấn đề là nếu quả có ngọn núi Quỳnh Viên tại cửa Sót, thì việc truyền dạy giáo lý của nhà sư Phật Quang cho Chữ Đồng Tử chắc gì đã xảy ra ở đó, bởi vì việc truyền dạy đó xảy ra quá xa cách thời điểm nó ghi lại trong Lĩnh Nam Trích Quái. Nói cụ thể ra, Lĩnh Nam Trích Quái đã ghi lại một sự việc xảy ra cách nó gần tới cả ngàn rưỡi năm. Tất nhiên, trừ phi ta thực hiện một cuộc khai quật khảo cổ học tại núi Quỳnh Viên ở cửa Sót và tìm thấy di vật liên hệ với Chữ Đồng Tử, thì vấn đề mới được giải quyết một cách dứt điểm. Nhưng trước mắt, nếu chưa làm được, song qua phân tích những truyện khác trong Lĩnh Nam Trích Quái, ta thấy dù Lĩnh Nam Trích Quái có được Trần Thế Pháp biên tập lại vào hậu bán thế kỷ thứ 14, thì những dữ kiện trong đó vẫn có một tính cổ sơ đáng muốn. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về truyền thuyết Trăm ứng trong truyện họ Hồng Bàng, ta thấy truyền thuyết này đã xuất hiện trong Lục độ tập kinh 3 ĐTK152 tờ 14a26-cl8 truỵện 23 do Khương Tăng Hội dịch ra chữ Hán vào khoảng những năm 220-250_1. Cũng một cách, truyện Tây Qua của Lĩnh Nam Trích Quái là một dị bản của truyện 7 trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, ĐTK206 tờ 512a16-b7, cũng do Khương Tăng Hội phiên dịch v.v... Nói khác đi, dù những truyện do Trần Thế Pháp tập hợp lại trong Lĩnh Nam Trích Quái xảy ra tương đối muộn, nhưng có những dữ kiện đã được chứng minh là xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học nước ta. Do thế, truyền thuyết về Chữ Đồng Tử được nhà sư Phật Quang dạy đạo Phật cũng có khả năng xảy ra rất sớm trong lịch sử dân tộc, chứ không phải vì sự xuất hiện muộn màng trong Lĩnh Nam Trích Quái mà mất đi tính chân thực và cổ sơ của nó. Vậy nhà sư Phật Quang này xuất hiện ở cửa Sót vào thời nào? Qua những chứng cớ ngoại tại, gián tiếp vừa kể trên, tối thiểu ta biết là những gì Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại chưa hẳn là không xảy ra, hay không có từ xưa. Cụ thể là truyện về truyền thuyết Trăm Trứng. Không kể các dã sử hay những thông tin bên ngoài, cứ theo chính sử Trung Quốc cũng đã ghi là có các chính quyền phương nam đi thông qua nước ta để đến phương Bắc, đó là chính quyền nước Hoàng Chi. Bình Đế Ký trong Tiền Hán thư 12 tờ 3a3 ghi: "Nguyên thủy thứ 2 (năm thứ 2 sdl), mùa xuân, nước Hoàng Chi dâng tê giác và bò". Rồi đến quyển 28 hạ, Tiền Hán Thư tờ 32b2-3, nơi chuyện Vương Mãng, cũng ghi: "Trong khoảng Nguyên thủy (1-6sdl) của Bình đế, Vương Măng phụ chính, muốn làm rạng rỡ uy đức của mình đã gửi biếu hậu hỷ vua Hoànt Chi khiến cho gửi sứ cống tê giác và bò sống". Nước Hoàng Chi này, cứ Tiên Hán thư 28 hạ, tờ 32b5-5, còn ghi tiếp: "Từ Hoàng Chi đi thuyền có thể tám tháng đến Bì Tôn, rồi đi thuyền hai tháng có thể đến biên giới Tượng Lâm của Nhật Nam. Phía Nam Hoàng Chi có nước Dĩ Trình Phất. Dịch sứ của Hàn từ đó về" Thế rõ ràng Hoàng Chi là một nước rất xa nước Hán, đi thuyền đến mười tháng mới đến. Ghi nhận đầu tiên của chính sử Trung Quốc về sự liên hệ giữa chính quyền Trung Quốc và chính quyền Hoàng Chi là Hoàng Chi ở phía Tây nước ta và phải đi thông qua nước ta mới đến Trung Quốc được. Hoàng Chi là nước nào? Có khả năng Hoàng Chi đây là một trong những nước ở Ấn Độ. Cho nên, nói cách khác, từ những năm đầu Dương lịch, quan hệ chính thức giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã có vè đường biển và đã được chính sử Trung Quốc ghi lại. Sau đó, từ thế kỷ thứ hai trở đi thì quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã được ghi rất rõ, cho nên khả năng trước khi có quan hệ chính thức trên bình diện chính quyền thì phải có quan hệ nhân dân; tức quan hệ giữa hai dân tộc phải đi với nhau rồi hai chính quyền mới đi theo, hoặc để bảo trợ quyền lợi của dân tộc mình hoặc để thiết lập quan hệ liên lạc ngoại giao. Cho nên khả năng những thương thuyền buôn bán của người Ấn Dộ đã đến Trung Quốc trước thời Vương Mãng từ lâu là một sự thật. Thực tế thì ngay trong Sử ký ta đã tìm thấy những từ tiếng Phạn được phiên âm ra tiếng Trung Quốc, cụ thể là từ lưu ly, vaidurya. Tức là nước Trung Quốc đã biết nước Ấn Độ từ lâu. Nói cách khác, từ những thế kỷ đầu Dương lịch, quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã thiết lập và có quan hệ buôn bán giữa thương nhân hai nước. Tiền Hàn thứ 9, tờ 3a3-6 (truyện Tây nam di, lưỡng Việt Triều tiên đã nói tới việc thương nhân đất Thục đem vải và gậy trúc Thân độc về Trung Quốc bán vào năm Nguyên thú thứ nhất (120tdl). Và chuyện Vương Mãng ghi vì "Muốn làm rạng rỡ uy đức của mình, [ông] đã hậu hỹ vua nước Hoàng Chi và khiến dâng tê giác và bò sống", có nghĩa là hai chính quyền đã có quan hệ bang giao từ lâu. Mà trước khi Vương Mãng biết đến nước này thì người nước này đã có quan hệ với Trung Quốc rồi, cho nên Vương Mãng mới biết để khiến dâng vật cống với nhau. Nói cách khác là vào những thế kỷ trước và sau Dương Lịch, đã có những quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khác về đường biển thông qua Việt Nam. Cho nên giả thiết sự tồn tại của nhà sư Phật Quang giữa thế kỷ thứ III hay thứ II tdl có thể chứng thực được. Về nhà sư Phật Quang [^]Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam Trích Quái kể lại việc Chữ Đồng Tử học được đạo Phật như sau: "Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán kính thờ Tiên Dung (và) Đồng Tử làm chúa. Có một khách buôn lớn đến bảo Tiên Dung rằng: "Quí nhân hãy bỏ ra một dật vàng năm nay cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí, đến sang năm được lãi mười dật". Tiên Dung vui mừng bảo Đồng Tử: "Vợ chồng ta là bởi Trời mà nên. Nhưng cái ăn cái mặc là do người làm lấy. Nay nên đem một dật vàng cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí để sinh sống". Đồng Tử bèn cùng thương nhân đi buôn án lênh đênh ra khắp nước ngoài. Có núi Quỳnh Viên trên núi có am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước. Đồng Tử lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu Tăng tên Phật Quang truyền pháp cho Đồng Tử. Đồng Tử ở lại để nghe pháp, đưa vàng cho thương nhân đi mua hàng. Đến lúc thương nhân trở về lại tới am đó chở Đồng Tử trở về nhà. Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: "Các việc linh thông đều ở đó rồi!. Đồng Tử trở về, đem đạo Phật nói hết với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ nghề buôn để cùng Đồng Tử du phương tìm thấy học đạo". Việc Chữ Đồng Tử và Tiên Dung, những người Việt Nam đầu tiên mà ta biết tên tiếp thu đạo Phật là như thế. Có hai đặc điểm mà ta cần lưu ý. Thứ nhất, việc tiếp thu này đã xảy ra tại núi Quỳnh Viên. Núi Quỳnh Viên từ thời Lê Thánh Tôn ta đã biết là nằm tại cửa Nam Giới, hay cửa Sót. Ngày nay, tại bờ nam của cửa Sót, còn có một hòn núi gọi là Nam Giới sơn. Phải chăng đây là địa điểm cần tìm hiểu khảo cổ học để khai quật xem có vết tích gì của Chữ Đồng Tử và Phật Quang chăng? Trước mắt, ít nhất ta đã xác định được là Quỳnh Viên không phải là một ngọn núi thần thoại, mà thật sự là một hòn núi có tên tuổi tại cửa Sót. Do những dấu vết của Chiêm Thành còn tồn tại đến ngày nay, ta cũng hiểu thêm từ cửa Sót về nam là miền đất thuộc vương quốc Chiêm Thành. Như thế, đất nước Việt Nam thời Hùng Vương phải chăng đã lấy cửa Sót làm một địa điểm ở miền nam của tổ quốc ta? Cần lưu ý, từ vùng cửa Sót, trở ra miền Bắc, ta không tìm thấy có bất cứ di chỉ nào liên hệ với nền văn hóa của Chiêm Thành. Ngược lại, từ cửa Sót trở về nam, cụ thể là các vùng phía nam tỉnh Nghệ An, tức từ Vinh trở về Nam và các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên, cho đến ngày nay, vẫn còn những vết tích của nền văn hóa Chiêm Thành. Nói thế, tức là muốn nói Phật giáo truyền vào nước ta căn cứ vào Lĩnh Nam Trích Quái là từ phía Nam, qua trung gian nhà sư Phật Quang ở núi Quỳnh Viên, tại Nam Giới hay cửa Sót, giáp giới với Chiêm Thành. Nhà sư này chắc hẳn không phải là ngưòi Việt, vì rằng truyện Chữ Đồng Tử nói: "Đồng Tử linh đinh ra khắp nước ngoài (phù du xuất hải ngoại)". Vùng núi Quỳnh Viên này có khả năng vào thời Chữ Đồng Tử chưa thuộc vào bản đồ của nước ta. Nhà sư Phật Quang này có thể là một người Chiêm Thành, hoặc là người Ấn Độ, đang tìm cách truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Và Chữ Đồng Tử là ngưòi Việt Nam đầu tiên đã đến tiếp xúc với ông, để rồi sau đó, trở thành người Phật Sư Việt Nam đầu tiên có tên tuổi. Truyện Chữ Đồng Tử này sau đó được Thiên Nam Vân Lục của một tác giả vô danh chép lại. Thế thì Chữ Đồng Tử đã tiếp thu đạo Phật như thế nào? Đây là đặc điểm thứ hai mà ta cần lưu ý. Truyện Chữ Đồng Tử chỉ nói khi Đồng Tử trở về quê "Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: mọi việc linh thông đều đã ở đấy cả". Nói vậy, Lĩnh Nam Trích Quái báo cho ta biết là truyền thống Phật Giáo mà Chữ Đồng Tử tiếp thu là một truyền thống Phật giáo quyền năng, đề cập đến những vấn đề linh dị và thần thông (linh thông). Truyền thống Phật giáo này, như ta sẽ thấy, xuất hiện trong Mâu Tử cũng như trong Khương Tăng Hội, và tồn tại cho đến thời một truyền thống Phật giáo mới ra đời, đó là truyền thống Phật giáo Thiền của Pháp Vân. Cần nhấn mạnh truyền thống Phật giáo quyền năng này cho đến thế kỷ thứ VI được bổ sung bởi truyền hưởng cơ bản của nó. Nó vẫn tồn tại như một lớp truyền thống Phật giáo mới, bổ sung cho nó qua lịch sử phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. Nhận thức điều này, ta sẽ dễ dàng hiểu được những hiện tượng đặc thù của những truyền thống khác nhau của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử. http://quangduc.com/.../03lspgvn1.html 
Ta cùng xem lại sự tích của Chử đồng Tử như sau :
Chử Đồng TửVũ Ngọc Phan kể
Thời xưa, ở làng Chử Xá (1), có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nhà nghèo đến nỗi phải chung nhau một cái khố, hễ ai đi đâu thì đóng. Cù Vân bị ốm nặng, khi sắp chết, dặn lại con rằng: - Bố chết, con cứ táng trần cho bố, còn cái khố con giữ lấy mà dùng. Cù Vân chết, Chử Đồng Tử không nỡ để cha trần truồng, lấy khố đóng cho cha, rồi mới chôn. Ở một túp lều nhỏ ven sông, ngày ngày Chử Đồng Tử xuống đánh cá, rồi đổi lấy gạo ở các thuyền qua lại. Thời bấy giờ vua Hùng Vương thứ mười tám có một nàng công chúa tên là Tiên Dung, nhan sắc tuyệt trần, tuổi đã mười bảy mười tám mà không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Vua chiều con, cấp cho con thuyền và đủ mọi người hầu hạ, mặc cho con muốn đi chơi đâu thì đi. Một hôm, Tiên Dung đi chơi thuyền trên sông, thuyền của Tiên Dung đi giữa, còn trước sau là thuyền của binh lính và thị nữ. Khi đến khúc sông thuộc làng Chử Xá, đám thuyền làm rợp cả mặt nước. Chử Đồng Tử trông thấy, vội vứt vó vào bụi, chạy lên bãi, bới cát vùi mình xuống, rồi lấy cát phủ lên. Thấy bãi sông rộng rãi, lại có lác đác từng bụi cây lớn tỏa bóng mát êm dịu, Tiên Dung lấy làm ưa thích, ra lệnh cho thuyền ghé vào bãi, rồi chọn một chỗ có bóng mát, sai thị nữ giăng màn tứ vi để tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo xiêm, dội thỏa thích. Không ngờ chỗ Tiên Dung giăng màn tắm lại chính là chỗ Chử Đồng Tử náu mình. Tiên Dung dội nước một lúc thì bỗng nhiên Chử Đồng Tử trồi lên. Tiên Dung trông thấy giật mình, hỏi duyên cớ thì Đồng Tử nói vì không có quần áo thấy thuyền quân quan thì sợ, nên phải vùi mình xuống cát để ẩn. Tiên Dung bảo Đồng Tử rằng: - Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run rủi, lại gặp chàng ở chốn này, mới biết cưỡng không được với trời. Nàng bảo Đồng Tử tắm sạch sẽ, lấy quần áo cho mặc, đưa xuống thuyền và sai thị nữ sửa soạn tiệc hoa. Thấy thế, Chử Đồng Tử ngỏ ý chối từ, Tiên Dung bảo chàng rằng: - Thiếp với chàng là tự trời xe duyên, việc gì mà từ chối! Đồng Tử đành phải nghe theo. Từ hôm ấy, hai người thành vợ chồng. Vua được tin nổi giận, gọi hết binh lính và người hầu của Tiên Dung về. Tiên Dung sợ cha, đành cùng chồng ở lại với nhân dân, tìm kế sinh nhai. Nàng làm ăn ngày một thịnh vượng, dần dần lập thành một xóm. Sau có người khuyên nàng cho người ra biển tìm những vật lạ đem về đổi lấy các thứ khác. Nàng nghe theo, để chồng đi. Đồng Tử đi qua một nơi phong cảnh tuyệt đẹp, trông lên núi thấy có cái am nhỏ. Đồng Tử trèo lên núi gặp một nhà sư xưng tên là Phật Quang. Thấy Đồng Tử là người chân thật, Phật Quang muốn truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử không nghĩ đến việc ra biển nữa, liền ở luôn đó. Đồng Tử học được hơn một năm thì Phật Quang cho chàng một cái gậy và một cái nón, cho phép chàng xuống núi và dặn rằng: - Phép biến hóa ở cả cái gậy và cái nón này. Đồng Tử về nhà, đem phép mầu truyền lại cho Tiên Dung, rồi hai vợ chồng rời bỏ xóm làng, đi tìm nơi thanh vắng để ở. Một hôm đang đi đường, trời tối mà chưa đến chỗ dân cư, hai vợ chồng chống cái gậy xuống đất và lấy cái nón úp lên đầu gậy để che sương, rồi hai người ngồi tựa vào nhau dưới nón mà ngủ. Đến quá nửa đêm, hai vợ chồng tỉnh dậy thì thấy mình ở trong một cung điện lộng lẫy có đủ các thứ giường sập, màn trướng, lại có cả tiểu đồng, thị nữ và binh lính đi lại rộn rịp ngoài hành lang. Sáng hôm sau, hai vợ chồng ra ngoài xem thì thấy có thành cao bao bọc cung điện và có tướng sĩ canh gác rất đông, chẳng khác nào một tòa thành lớn. Tin lạ ấy đến tai vua. Vua cho là Đồng Tử và Tiên Dung làm loạn, liền sai quan quân đến đánh. Quân nhà vua đến gần nơi Tiên Dung và Đồng Tử ở thì trời vừa tối, không sang sông được. Đến nửa đêm, trời nổi cơn dông, cát bay, cây đổ, rồi toàn khu Đồng Tử và Tiên Dung ở bay cả lên trời, chỉ còn lại bãi đất không ở giữa đầm. Bãi ấy về sau gọi là bãi Tự nhiên (2), còn đầm ấy gọi là đầm Nhất Dạ (3). Thấy có sự lạ lùng như vậy, nhân dân lập miếu thờ ngay trên bãi.Đời sau, Triệu Việt Vương đóng quân trong đầm để chống lại quân xâm lược nhà Lương. Lúc bị quân giặc vây nguy cấp, Triệu Việt Vương thiết đàn, cầu thần giúp mình tiêu diệt quân địch để cứu nạn nước, bỗng thấy một vị thần cưỡi rồng xuống đàn cho Triệu Việt Vương một cái vuốt rồng và dặn: "Ngươi cắm cái vuốt này lên chỏm mũ đầu mâu thì đi đến đâu, giặc sẽ tan đến đấy". Nói xong, thần cưỡi rồng bay vụt lên trời. Theo lời thần dạy, Triệu Việt Vương cắm vuốt rồng lên chỏm mũ, thấy sức khỏe tăng lên bội phần, trí óc cũng sáng suốt, thanh thế ngày một lớn, mới đem quân phá vòng vây, chém được tướng giặc là Dương Sàn. Quân xâm lược nhà Lương bị tan vỡ, phải rút khỏi đất nước Việt Nam. 
Vũ Ngọc Phan kể 
(1). Bây giờ thuộc huyện Châu Giang (trước thuộc Bắc Ninh, nay thuộc Hưng Yên).
(2) Bây giờ thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
(3). "Nhất dạ" nghĩa là một đêm. 

LƯU Ý : Trong tất cả các truyền thuyết về thời Hùng Vương , đều luôn có niên đại của Vua Hùng Vương thứ .... ( dienbatn )

Đền Chử Đồng Tử
Vị trí: Đền Chử Đồng Tử bao gồm 2 đền: đền Đa Hòa thuộc thôn Đa Hoà, xã Bình Minh, và đền Dạ Trạch thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, Huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Đặc điểm: Cả hai ngôi đền đều thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân. Đền thờ Chử Đồng Tử có ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam. Tại huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, cách Hà Nội chừng 25km theo đê sông Hồng, có hai ngôi đền thờ Đức thánh Chử Đồng Tử, một ngôi đền nằm ở địa phận thôn Đa Hoà, xã Bình Minh, bên dòng sông Hồng nhìn ra bãi Tự Nhiên nơi nàng công chúa Tiên Dung xinh đẹp, con gái vua Hùng thứ 18 kỳ ngộ và nên duyên với chàng Chử nghèo khó; ngôi đền thứ hai thuộc địa phận thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, nơi chàng Chử cùng nhị vị phu nhân hoá về trời.Tuy hai ngôi đền đều thờ đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, kiểu dáng kiến trúc truyền thống nhưng có sự khác biệt đáng kể.Ngôi đền Ða Hoà (được nhà nước xếp hạng di tích văn hoá năm 1962) nằm trên một khu đất cao, rộng, bằng phẳng hình chữ nhật có diện tích 18.720m² , cảnh quan đẹp, mặt quay hướng chính tây nhìn thẳng sang bãi Tự Nhiên. Tổng thể kiến trúc có 18 ngôi nhà mái ngói cổ như 18 con thuyền mũi cong tượng trưng cho 18 đời vua Hùng.  Ngọ môn gồm 3 cửa. Cửa chính là toà nhà 3 gian cao rộng, trên đỉnh nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt (chỉ mở cửa vào đại lễ). Hai cửa bên để đón khách gần xa. Qua sân Ðại là đến Ðại tế, toà Thiêu hương, cung Ðệ Nhị, cung Ðệ Tam và cuối cùng là Hậu cung. Toà Thiêu hương có kiến trúc cao, thoáng, trang nghiêm. Các đầu đao, bờ nóc chạm trổ tinh vi, đắp gọt tỉ mỉ, màu sắc rực rỡ cùng nhiều hình trang trí khác như rồng, sư tử. Cửa võng ở cung Ðệ nhị đều được chạm hình chim phượng, hoa cúc mãn khai và các hoa quả được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Ðặc biệt các pho tượng đức thánh Chử Ðồng Tử và phu nhân được đúc bằng đồng rất đẹp.Hiện nay đền Ða Hoà còn bảo tồn được nhiều di vật quý hiếm, trong đó có đôi lọ Bách thọ (một trăm chữ thọ không chữ nào giống chữ nào, khắc trên thành lọ bằng gốm), một cổ vật vô giá của dân tộc. Đền Dạ Trạch nằm trong không gian thoáng đãng cạnh đầm Dạ Trạch (được nhà nước xếp hạng di tích năm 1989). Kết cấu chính từ ngoài vào trong gồm có lầu chuông, hồ bán nguyệt, qua sân là đến điện thờ gồm ba toà nhà. Toàn bộ nội, ngoại thất, kiến trúc ngôi đền toát lên nét cổ kính, linh thiêng.Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức từ ngày 10 đến 12 tháng hai âm lịch hàng năm ở cả hai ngôi đền này. ( Sưu tầm ) .dienbatn xin chu thích câu : Cả hai ngôi đền đều thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân. Hai vi phu nhân của Chử Đồng Tử ở đây là : Tiên Dung và Nội Trạch Tây Cung ( Sự tích Chử Đồng Tử: Chử Đồng Tử quê ở Đa Hòa, H. Đông An, đạo Sơn Nam, sau là H. Khoái Châu, Hưng Yên, nhà nghèo, nhưng thông minh, tuấn tú, làm nghề câu cá ở bến Chử Gia. Công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng dạo thuyền đi chơi, qua bến Chử Gia, gặp Chử Đồng Tử, hai người lấy nhau. Đồng Tử lại lấy Tây Cung Tiên Nữ làm vợ hai. Hùng Vương được tin, sai quân đi bắt Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Nhưng qua một đêm, khi đội quân đó tới nơi thì cả vợ chồng Chử Đồng tử cùng cung điện, lâu đài của họ đều đã biến mất. Chỗ đất cũ chỉ còn là một cái đầm, nay là đầm Dạ Trạch. - Trích từ Chử Đồng Tử cập Tiên Dung Tây cung nhị vị tiên Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572). Sao lại năm Vĩnh Hựu 2 (1730) theo bản chính của Bộ Lễ. 1 bản viết, 26 tr., 27 x 16. A. 2468.
Paris. EFEO. MF. I/1/74. )
 Theo Hưng Yên tỉnh nhất thống chí ( A.963, 14  DNNTC( A. 69/4 ), Bắc thành địa dư chi lục ( A.1565, 111a) , Đồng Khánh địa dư chí ( A. 537/8 ) , ĐẠI VIỆT ĐỊA CHÍ ( A.973/1, 25a ) có viết : "...Riêng ở đền Đa Hòa , có thêm huyền tích : ở làng Đông Minh Huyện Đông Yên có người con gái xinh đẹp, một hôm đi làm đồng gặp mưa to gió lớn , khi tạnh mưa thì biến mất . Chử Đồng Tử Đế Quân báo mộng cho biết đã đón người con gái ấy về Trời làm vợ thứ gọi là Hữu Hoàng hậu ". Theo sách vở cũ, các đời vua Hùng bắt đầu từ năm 2879 và kết thúc vào 258 TCN. Tổng cộng 2622 năm . Nếu theo Tây lich hiện nay là năm 2008 thì Thế đại các Vương Triều Vua Hùng từ khi kết thúc đến nay là 2266 năm . Còn theo Việt lich thì năm nay là năm 4887. GIỚI THIỆU VỀ NÚI NAM GIỚI . Núi Nam Giới ở trên bờ biển xã Dương Luật , Huyện Thạch Hà . Ngày trước phía Nam nước ta giáp giới nước Chiêm Thành , nên đặt núi là Núi Nam Giới ( Dân địa phương còn gọi là Núi Bể ) . Mạch đi từ núi Nhật Lệ lại , cao lớn , đẹp đẽ . Nơi cao nhất của núi phía Đông Bắc như trán Rồng . Liền ở dưới có một dải sống núi như mũi Rồng . Hai bên tả hữu có hai tảng đá tròn như mắt Rồng . Dưới mũi đột ngột nổi lên một ngọn núi tròn như hình mũi Rồng ( Long chuẩn ) . Dưới đầu mũi có một cái ao Trời rộng độ vài mẫu như miệng Rồng , sâu thăm thẳm . Bốn bên ao nước , cỏ lầy lội không thể vào được . Hai bên ao có hai ngọn nhánh ôm lại như râu Rồng Nước ao chảy quanh co trong đó ra phía Bắc , ra biển rồi đổ xuống . Nhánh núi bên trái thấp xuống chạy ra đến bể thì đột ngột nổi lên một ngọn chắn ngang , sóng gió đánh vào như muôn tiếng sấm , gọi là ngọn Long Ngâm ( Cũng gọi là Núi Sót hoặc mũi Sót . Lịch Triều hiến chương loại chí gọi là núi Thù Sơn ) . Trên bờ ao có hai nên nhà . Tục truyền vào thời Hùng Vương , Chử Đồng Tử và Tiên Dung tu Đạo ở đấy , gọi là núi Quỳnh Viên . Lê Thánh Tông Hoàng Đế đi tuần du phương Nam có câu thơ : " Danh Sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên " ( Kể về núi danh tiếng , còn nói đến núi Quỳnh Viên xưa " . Nhưng sự việc hoang đường ấy không đáng tin , nên nhà lại không phải là vật ngàn , vạn năm gì . Xét Sử Ký Toàn Thư : Năm Thuận Thiên thứ 6 [ 1025] Lý Thái Tổ xuống chiếu , lập ra trại Định Phiên ở biên giới phía Nam , lấy quản Giáp Lý Thai Giai làm trại chủ , thì hai nền nhà ấy có thể là nền trại . Ngọn núi phía Tây còn có miếu thờ Vũ Mục công Lê Khôi ( Lê Khôi , con người anh thứ hai của Lê Lợi , làm đến chức Kiểm hiệu tư không bình chương sự , đi đánh Chiêm Thành về , chết tại Nghệ An , tên thụy là Vũ Mục ) . Thám Hoa Nguyễn Như Đổ , người Huyện Thanh Đàm ( Thanh Trì - Hà Nội ) soạn bài ký khắc vào đá ở miếu . Về phía Nam vài dặm có suối Hau Hau , nước rất ngon ngọt . Trong những tháng mùa hè , dân quanh vùng ghé thuyền vào chân núi bắc máng tre dẫn nước vào thuyền chở đi bán . Những người quanh vùng đều lấy làm quý . Sách Ốc lâu Thoại có bài thơ vịnh núi Nam Giới :Phiên âm : Hồng Đức Nam tuần nhật . Linh trường ngự chế thi .Thùy chi Nam Giới hải .Diệc hữu thạch Long nhi .Tị bàng tình khai giáp ,Tu phân khẩu hối trì . Như Long nguyên bất thiểu ,Tao ngộ tự nam kỳ . Dịch nghĩa :Ngày Vua Hồng Đức đi tuần du ở phương Nam , Vua đề thơ ở Linh Trường .Mói biết biển Nam Giới ,Cũng có con Rồng đá .Mũi ngăn đôi con người theo hiểm núi , Râu Rồng chia ra nơi miệng Rồng thành ao . Hình tượng đá giống Rồng không hiếm , Nhưng gặp gỡ như thế này cũng là khó . Dịch thơ : Thủa Vua Hồng Đức Nam chinh ,Ngự thi còn dấu tại Linh Trường này . Cửa Nam Giới chính là đây , Men theo cửa bể , núi xây hình Rồng . Kia là chiếc mũi cong cong ,Râu Rồng ôm lấy miệng Rồng là ao .Núi Rồng thiên hạ cũng nhiều ,Nhân duyên gặp gỡ là điều khó thay .( Mai Xuân hải dịch ) . ( Trích trong NGHỆ AN KÝ của BÙI DƯƠNG LỊCH ). Ghi chú : Mặc dù Bùi Dương Lịch cho truyền thuyết nền nhà của Chử Đồng Tử và Kim Dung là hoang đường , nhưng theo dienbatn , biết đâu trại của Lý Thái Giai cũng làm trên nền cũ nơi Chử Đồng Tử và Kim Dung học Đạo . Mặt khác chi tiết về thuyền của Chử Đồng tử khi đi buôn có ghé qua lấy nước , có khả năng là lấy nước tại suối Hau Hau chăng ??? GIỚI THIỆU VỀ CỬA SÓT . Cửa Sót ( Nam Giới) , tại nơi giáp giới hai Huyện Thiên Lộc và Thạch Hà , nước sông Hà Hoàng chảy ra . Nguồn sông gần và nông , nước triều mặn dâng ngược rất xa . Cửa biển sâu rông . Ngày trước các thuyền buôn của người tàu sang ta đều vào cửa ấy . Lê Thánh Tông tuần thú phương Nam , có thơ vịnh cửa Nam Giới rằng : Nam Giới triều đầu tuyết loạn phiên ,Đình châu bả lãm vận vân căn . Kiểu biên thương bạc Long Tê hỏa ,Châu ngoại nhân cao độc ty côn .Di miếu mạn truyền kim Vũ Mục ,Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên .Xạ lai ngẫu tỉnh giang hồ mộng Chuẩn nghĩ thùa xà khấu đế hôn . Dịch nghĩa :Sóng đầu Cửa Sót như ntuyết bay tán loạn ,Dừng thuyền và buộc dây vào mây .Bến cầu các thuyền buôn đốt lửa ở Long Tê .Ngoài bãi người dân phơi những chiếc quần cộc .Miếu còn lại ngày nay truyền rằng thờ Vũ Mục ,Kể núi có danh tiếng , còn gọi là Vườn Quỳnh xưa ,Vừa đến nơi thì chợt tỉnh mộng giang hồ ,Nghĩ mình đang cưỡi bè lên gõ cửa Thượng Đế .Dịch thơ : Nam Giới triều dâng , tuyết rộn bay,Dừng chèo , dây gấm buộc chân mây .Bên cầu , thuyền Khách " cao Rồng" thắp,Ngoài bãi ven rào " mũi nghé " phơi .Vũ Mục đời nay , tòa miếu dựng .Quỳnh Viên chuyện cũ núi Tiên ngồi .Mộng giang hồ bỗng tàn đâu hết ,Tưởng cưỡi bè lên gõ cửa Trời .( Ngô Ngọc Linh dịch ) [ Trích từ NGHỆ AN KÝ của Bùi Dương Lịch ] . Bài thơ Lê Thánh Tông khắc tại đền thờ Lê Khôi ( Ảnh dienbatn chụp ) 


Posted Image

Phần này dienbatn xin giới thiệu một bài viết của NGUYỄN VŨ TUẤN ANH đăng trong cuốn Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại về Chử Đồng Tử - Tiên Dung và phản biện của ông đối với Thiền sư Lê mạnh Thát . Đây là ý kiến của riêng Nguyễn Vũ Tuấn Anh , dienbatn xin phản biện ở phần sau .
"
Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Nguyễn Vũ Tuấn AnhTrung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương
NXB Văn hóa thông tin
Sự tích Đầm Nhất Dạ

Sự hình thành tín ngưỡng và y phục của người Lạc Việt

Vấn đề nội dung truyền thuyết “ Đầm Nhất Dạ“ 

Truyền thuyết Đầm Nhất Dạ nói về một trong bốn vị thần hộ quốc vào hàng bất tử trong thần thoại Việt Nam. Bốn vị thần đó là: Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh và Công chúa Liễu Hạnh. Trừ Công chúa Liễu Hạnh thì ba vị thần bất tử đều là nam thần và có nguồn gốc từ thời Hùng Vương. 

Do đó truyền thuyết về Chử Đồng Tử, một trong những truyền thuyết phổ biến trong dân gian, chắc chắn không phải chỉ để giải thích về nguyên nhân cái đầm nằm ở Hải Dương bây giờ. Vì vậy, muốn có một sự phân tích chu đáo về truyền thuyết này cũng phải lược lại những yếu tố do đời sau thêm vào, để tìm đến nội dung ban đầu đích thực của nó. Trước hết, xin độc giả xem lại toàn bộ truyền thuyết của truyện “Nhất Dạ Trạch” trong Lĩnh Nam chích quái (sách đã dẫn):
Truyện Nhất Dạ trạch
Hùng Vương truyền tới đời thứ III (Truyền thuyết Hùng Vương – thần thoại Vĩnh Phú, sách đã dẫn và truyền thuyết còn lưu truyền trong dân gian nói: Vào đời Hùng Vương thứ XVIII) thì hạ sinh được con gái tên là Tiên Dung – Mỵ Nương đến tuổi 18 dung mạo đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, chỉ mải vui chơi chu du khắp thiên hạ. Vua cũng không cấm. Mỗi năm vào khoảng tháng hai, tháng ba lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài bể vui quên trở về.
Hồi đó, ở làng Chử Xá cạnh sông lớn có người dân tên là Chử Vi Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử (có nghĩa là người con trai ở bến sông), cha từ con hiếu. Nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, còn một khố vải cha con ra vào thay nhau mà mặc. Kịp tới lúc cha già ốm, bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con”. Con không nỡ làm theo, dùng khố mà liệm bố.
Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông, hễ nhìn thấy thuyền buôn qua lại thì đứng dưới nước mà ăn xin, rồi lại câu cá độ thân. Không ngờ thuyền Tiên Dung tới, chiêng trống đàn sáo, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ.
Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây. Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống mà phủ cát lên mình. Thoắt sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh vây màn trướng ở khóm lau mà tắm. Tiên Dung vào màn cởi áo dội nước, cát trôi mất, trông thấy Đồng Tử. Tiên Dung kinh sợ hồi lâu, thấy con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp người này, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là trời xui nên vậy. Người hãy đứng dậy tắm rửa, ta ban cho quần áo mặc rồi cùng ta xuống thuyền mở tiệc ăn mừng”. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử nói là tại sao mà lại nấp ở đấy. Tiên Dung ta thán rồi ép làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ, Tiên Dung nói: “Đây là do trời chắp nối, sao cứ chối từ?”.
Người theo hầu vội về tâu lại với vua. Hùng Vương nói: “Tiên Dung không thiết danh tiết, không màng của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ bần nhân, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa”.
Tiên Dung nghe thấy, sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở bến chợ, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành cái chợ lớn (nay là chợ Thám, còn gọi là chợ Hà Lương). Phú thương ngoại quốc tới buôn bán, thờ Tiên Dung, Đồng Tử làm chúa. Có người lái buôn giàu nói rằng: “Quí nhân bỏ một dật vàng ra ngoài biển mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do trời phú cho, hãy đem vàng cùng phú thương ra hải ngoại buôn bán”.
Có núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé thuyền ở đó lấy nước ngọt. Đồng Tử lên am chơi, có tiểu tăng tên gọi là Ngưỡng Quang truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử lưu học ở đó, giao hàng cho lái buôn mua hàng. Sau lái buôn quay lại am chở Đồng Tử về. Sư tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón (Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam thì là “cây gậy và chiếc nón” - người viết.) mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.
Đồng Tử trở về, giảng lại đạo Phật, Tiên Dung giác ngộ, bỏ phố phường, cơ nghiệp, rồi cả hai tìm thầy học đạo. Trên đường viễn hành, trời tối mà chưa thấy thôn xá, hai người tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng, che nón mà trú thân. Đến canh ba thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài dinh thự, phủ kho miếu xã, vàng bạc châu báu, giường chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ la liệt trước mắt. Sáng hôm sau ai trông cũng kinh lạ, đem hương hoa, thức ăn quý tới mà xin làm bầy tôi. Có văn võ bá quan chia túc quân vệ, lập thành nước riêng.
Hùng Vương nghe tin cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần xin đem quân ra phân nhau chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sinh tử tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin nhận theo lẽ chính, mặc cho đao kiếm chém giết”.
Lúc đó dân mới đến đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại. Quan quân tới, đóng trại ở châu Tự Nhiên, còn cách sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân.
Nửa đêm gió thổi bay cát nhổ cây, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay tản lên trời, chỗ đất đó tuột xuống thành cái chằm lớn. Dân bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi chằm là chằm Nhất Dạ Trạch (nghĩa là chằm một đêm), gọi bãi là bãi Mạn Trù (bãi Màn Trướng), gọi chợ là chợ Thám còn gọi là chợ Hà Lương.
Sau vua Hậu Lương là Diễn sai Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược phương Nam. Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục sai quân nấp ở chằm. Chằm sâu mà rộng, lầy lội, tiến binh rất khó, Quang Phục dùng thuyền độc mộc đột xuất ra đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa đây là chằm một đêm bay về trời, nay lại là chằm một đêm cướp một người”.
Nhân gặp loạn Hầu Cảnh vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, ủy cho tùy tướng là Dương Sằn thống lĩnh sĩ tốt. Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương mà cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đàn mà bảo Quang Phục rằng: “Hiển linh còn đó, người có thể cầu tới cứu trợ để dẹp bằng họa loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu có thể khiến giặc bị diệt”. Đoạn bay lên trời mà đi.
Quang Phục được vật đó, reo mừng vang động, xông ra đột chiến, quân Lương thua to. Chém Dương Sằn trước trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn tự lập làm Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh. (Có chỗ viết là Châu Quỳnh Viên Sơn tức Kim Mộc Sơn ở cửa Nam Giới, huyện Thạch Hà).


Như vấn đề sự tam sao thất bản đã trình bày ở trên, qua “Sự tích Đầm Nhất Dạ”, bạn đọc có thể nhận ngay những yếu tố do đời sau thêm vào, đó là:

@ Toàn bộ đoạn nói về cuộc chiến do ngài Triệu Quang Phục lãnh đạo với quân nhà Lương.
@ Chử Đồng Tử đi học đạo Phật ở núi Quỳnh Viên. Được sư thầy tặng bảo bối là cây trượng và chiếc nón. Sau đó về giảng lại đạo Phật cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ đạo Phật.
Đây là một yếu tố do đời sau thêm vào. Bởi vì lịch sử Phật giáo đã ghi nhận: Phật giáo truyền vào Giao Chỉ ở đầu thế kỷ thứ II sau CN, tức là sau khi kết thúc thời Hùng Vương hơn 400 năm. Do đó, không thể Tiên Dung và Chử Đồng Tử đi học đạo Phật được, cho dù đó là cuối thời Hùng Vương thứ XVIII. Hơn nữa, giáo lý của đạo Phật nhằm hướng dẫn con người trở về với bản tính – còn gọi là Như Lai tạng tính – để đi đến một sự hòa nhập với bản nguyên chân như, tức là đạt đến sự giải thoát hoàn toàn (cõi Niết Bàn), không thể có việc sử dụng bảo bối, bùa phép thần thông biến hóa như đạo Giáo. Vì vậy, có thể khẳng định rằng việc đưa đạo Phật vào nội dung “Sự Tích Đầm Nhất Dạ” hoàn toàn do đời sau thêm vào. Trong đền thờ ngài Chử Đồng Tử cũng có biểu tượng cây gậy và chiếc nón, chứ không phải cây thiền trượng của Phật giáo.
Một yếu tố nữa thể hiện quan điểm của Hán Nho, đặc biệt là Tống Nho cũng được gán vào trong câu chuyện này. Đó là khi nghe tin Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử, vua Hùng Vương nói: “Tiên Dung không thiết danh tiết...”. Ý niệm về danh tiết chỉ bắt đầu từ ý thức hệ trong xã hội phong kiến Trung Hoa kể từ khi Nho học có ảnh hưởng mạnh, đặc biệt là Tống Nho. Trước đó, vào thời Xuân Thu Chiến quốc, ý niệm này không được tôn trọng (thời điểm ra đời của cuốn Lĩnh Nam chích quái là lúc Nho giáo được xiển dương dưới triều Hồng Đức và ảnh hưởng của Phật giáo trước đó là quốc giáo vẫn còn rất mạnh).
Sau khi loại trừ yếu tố Hán Nho và Phật học nói trên, thì cốt truyện này được tóm lược để tìm đến ý tưởng của tác giả như sau:

@ Chử Đồng Tử rất có hiếu và nhà nghèo, chỉ có một cái khố duy nhất.
@ Công chúa đi du ngoạn, tắm ở mé sông, gặp Chử Đồng Tử trong một tình trạng khó xử. Hai người lấy nhau.
@ Họ ra riêng và tạo dựng được cơ nghiệp, đem lại sự trù phú cho cả một vùng.
@ Chử Đồng Tử đi học đạo, đắc đạo và truyền lại cho Tiên Dung.
@ Hai vợ chồng bỏ cơ nghiệp đi học đạo tiếp tục. Do thần thông, tạo dựng nên một quốc gia riêng.
@ Vua Hùng đem quân tới. Toàn bộ nhà cửa thành quách biến mất chỉ trong một đêm. Hai vợ chồng bay lên trời.


Với nội dung như trên thì yếu tố đầu tiên dễ nhận thấy là: sự phù hoa chỉ là hư ảo. Chử Đồng Tử rất nghèo “cái khố không có mà mặc”. Lấy được công chúa, tự tạo nên sự phú túc cho mình. Bỏ đi học đạo. Tạo nên sự phú quý tột đỉnh (làm vua). Rồi lại bỏ đi hết để vào cõi bất tử. Có lẽ nội dung câu chuyện đầy tính huyền thoại này có một số yếu tố rất gần với quan niệm Phật giáo. Do đó, đã có sự thay thế giữa vị đạo sĩ (như “Truyền thuyết Trầu Cau” – Đạo sĩ họ Lưu) bằng vị Phật hoặc sư theo đạo Phật. Nhưng nếu là đạo sĩ tất nhiên không phải là tín đồ Lão – Trang mà là chỉ nói tới con người uyên bác (sĩ) và cái học hướng tới một đỉnh cao nào đó (đạo). Về sau từ đạo sĩ để chỉ những người tu tiên. Như vậy, với nội dung gần gũi thì “Truyền thuyết Đầm Nhất Dạ” nói về sự vô thường của cuộc đời và đề cao giá trị tâm linh.
Câu chuyện này về mặt nghệ thuật còn có những hình tượng và kết cấu rất huyền ảo, độc đáo. Hình ảnh người nghèo đến nỗi không có cái khố để mặc, lấy một cô công chúa kiều diễm trong một hoàn cảnh đặc biệt. Đây là một sự tuyệt đỉnh của tính hư cấu hợp lý, hầu như không có khảo dị cho những trường hợp tương tự ở bất cứ một truyện cổ tích nào trên thế giới. Trong những truyện cổ tích phổ biến của thế giới, chúng ta hay gặp những hình ảnh: một chàng trai nghèo khổ nào đó, tình cờ gặp bầy tiên tắm bên suối, rồi giấu quần áo, cánh... để lấy làm vợ thì nhiều vô kể. Nhưng để đạt đến quan hệ vợ chồng với lối kết cấu đó lại nặng tính cưỡng chế, thoả mãn dục vọng. Hoặc cũng có nhiều chuyện cổ tích miêu tả những chàng trai con nhà nghèo, gặp may mắn, hay nhờ sự hỗ trợ của thần thánh, lập chiến công rồi lấy công chúa… Còn ở hoàn cảnh của Chử Đồng Tử và Tiên Dung thì lại có sự hài hòa của bản tính tự nhiên của con người với những giá trị đạo lý giàu chất nhân bản. Mặc dù trước đó, Chử Đồng Tử nghèo đến mức khó có thể lấy vợ; công chúa Tiên Dung thì lại không muốn lấy chồng. Đó cũng là một cách giải quyết tài tình, có hậu cho một người con chí hiếu. Như vậy, qua đoạn mở đầu với những hình ảnh đối lập đầy ấn tượng giữa sự phú quý tột đỉnh của công chúa Tiên Dung và cái nghèo nàn đói khó đến cùng cực của Chử Đồng Tử; diễn biến sự kiện đầy kịch tính và sự hư cấu cao độ, nhưng hoàn toàn hợp lý và giầu chất nhân bản; đã cho thấy trí tưởng tuợng rất phong phú, giầu chất lãng mạn của những tác gia thời Hùng Vương. Có thể nói, những tác gia đời Hùng đã đạt đến trình độ bậc thầy về tuyệt kỹ trong văn học (rất tiếc trải qua hơn 2000 năm thăng trầm của lịch sử, câu chuyện chỉ còn lại cốt lõi của nó; nếu không, chắc chắn sẽ vô cùng hấp dẫn).
Những vấn đề cần phải minh chứng liên quan đến thực trạng xã hội Văn Lang trong truyện này, bắt đầu từ hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ nhất, đó chính là sự chí hiếu của Chử Đồng Tử: nhường cái khố cuối cùng cho cha để chấp nhận “Nghèo đến không có khố mà mang”. Câu thành ngữ vẫn còn được phổ biến trong dân gian Việt Nam cho đến nửa đầu thế kỷ 20 này, phải chăng có xuất xứ từ “Sự tích Đầm Nhất Dạ” . Từ đó đặt ra một vấn đề: người giàu mặc cái gì?

Chử Đồng Tử và Tiên DungTranh lụa màu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh
Chử Đồng Tử - Tiên Dung
Tạo dựng tín ngưỡng thời Hùng Vương

Chử Đồng Tử là một trong bốn vị thần hộ quốc thuộc hàng bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đương nhiên không phải vì lấy công chúa Tiên Dung và làm phò mã của vua. Ông xuất thân từ địa vị một người nghèo và đạt đến đỉnh cao của sự phú quý, nhưng vẫn sẵn sàng bỏ hết để tầm sư học đạo. Chỉ cần như vậy, cũng đủ để ông có sự tín nhiệm của người đương thời với những giá trị tinh thần mà ông hướng tới. 



Lý Ngư vọng NguyệtTranh dân gian Hàng TrốngPhải chăng đây là một bức tranh
mang màu sắc Đạo giáo
của Chử Đồng Tử, miêu tả những ảo vọng
của cuộc đời qua bòng trăng soi đáy nước?


Qua cuộc đời của ông cho thấy ít nhất căn bản quan niệm nhân sinh quan của Chử Đồng Tử là: của cải thế nhân và sự thăng trầm của cuộc đời chỉ là phù du. Trong truyền thuyết Đầm Nhất Dạ nói tới sự kiện Chử Đồng Tử, Tiên Dung đắc đạo và tạo dựng một vương quốc hư ảo cho mình bằng quyền năng của thần thánh. Đây là hình ảnh của một thế giới tâm linh tạo nên tín ngưỡng của người dân Lạc Việt thời Hùng.
Hình ảnh cuối cùng của truyền thuyết này là lâu đài, cung điện nguy nga biến mất chỉ trong một đêm, để lại cho thế nhân một đầm nước long lanh, phản chiếu những hình ảnh hư ảo của cuộc đời qua hàng thiên niên kỷ.
Như những chương trên đã trình bày: thuyết Âm Dương Ngũ hành là hệ tư tưởng vũ trụ quan chính thống của thời Hùng Vương, giải thích từ bản nguyên vũ trụ là Thái Cực đến sự vận động của nó là Âm Dương Ngũ hành. Tính bao trùm về mọi mặt và sự ứng dụng rộng rãi trên thực tế đã chứng tỏ sự thuyết phục của học thuyết này. Do đó, không thể có cơ sở từ ngay trong tâm lý để phát sinh và tồn tại một hệ tư tưởng tôn giáo vượt ra ngoài giá trị của nó. Nhưng về nhân sinh quan, xuất phát từ những giá trị đạo lý đề cao tình người và tính nhân bản, cộng với tri thức sâu sắc trong thiên văn qua sự vận động của những tinh tú ảnh hưởng đến chu kỳ sinh học của con người – tức là sự chi phối của sức mạnh thiên nhiên. Đồng thời nền văn minh đó cũng thừa nhận khả năng của con người trong sự tương tác giữa con người với thiên nhiên (Sự tích Dưa Hấu). Do đó, tín ngưỡng mà ngài Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung tạo dựng, chỉ có thể hướng con người vươn tới sự hòa nhập với thiên nhiên hoặc đạt tới những quyền năng của thiên nhiên trong sự vận động của Âm Dương Ngũ hành. Trên thực tế, truyền thuyết về các thánh thần ở Việt Nam cho thấy: mỗi thần đều có chức năng riêng trong việc chi phối vận động của tự nhiên. Như: Thiên Lôi làm sấm sét, Long vương làm mưa…Sự khác biệt so sánh với hệ thống đa thần của các nền văn minh cổ đại khác như Ai Cập, Hy Lạp là:
@ Các thần của hệ thống đa thần trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Việt Nam không có quyền, hoặc quyền năng rất hạn chế, trong việc quyết định thay đổi định mệnh con người. Ngược lại, trong thần thoại Ai Cập , Hy Lạp hầu như mỗi vị thần đều có quyền năng thay đổi số phận con người.
@ Tổ chức trong hệ thống bách thần ở Việt Nam rất chặt chẽ, có thứ bậc; trong đó Ngọc Hoàng Thượng đế có quyền năng tối cao. Ngược lại, trong thần thoại Hy Lạp quyền năng của thần Dớt rất hạn chế với các vị thần dưới quyền. Hoặc trong thần thoại Ai Cập, quyền năng của các vi thần thượng đẳng như : thần Rê, thần Tho… gần ngang nhau.
Điều này là cơ sở để chứng tỏ hệ thống thần thoại Việt Nam đã ra đời rất lâu sau khi hình thành một quốc gia có tổ chức chặt chẽ. Từ đó, trên cơ sở của những giá trị tư tưởng chính thống chi phối toàn bộ xã hội Văn Lang là thuyết Âm dương Ngũ hành và cuộc đời của ngài Chử Đồng Tử, thì hoàn toàn có cơ sở để đặt giả thuyết về khả năng hình thành một tín ngưỡng đa thần vào cuối thời Hùng Vương mà vị khởi xướng là ngài Chử Đồng Tử. Tín ngưỡng này phản ảnh thực trạng xã hội Văn Lang ở tính tổ chức và quyền năng hạn chế của các vị thần, hướng giá trị tâm linh con người trở về với Thái Cực, hoặc đạt tới Thái Cực để thoát ly khỏi cuộc sống đầy vướng bận trần gian.
Hình tượng vua Hùng đem quân tới mà không có sự trấn áp, đã chứng tỏ vua Hùng không thừa nhận những giá trị tín ngưỡng được hình thành từ chính những giá trị tư tưởng chính thống của Văn Lang, nhưng cũng không phản ứng mạnh mẽ. Mặc dù như vậy, nhưng sự hiện diện của công chúa Tiên Dung - con vua Hùng - bên cạnh Chử Đồng Tử, vị sáng lập ra một hệ thống tín ngưỡng của người Lạc Việt cũng chứng tỏ khả năng phát triển sâu rộng của nó trong xã hội Văn Lang.
Đạo đức kinh và tín ngưỡng của người Lạc Việt
Hình ảnh cuối cùng trước khi vào cõi bất tử của ngài Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung là chiếc nón và cây gậy đã tạo nên một vương quốc tâm linh hư ảo của ngài. Đây chính là hình tượng của sự vươn lên đạt tới Thái Cực, tức là sự hòa nhập hoàn toàn với vũ trụ (theo truyền thuyết kể lại thì không phải ông sư tặng cho Chử Đồng Tử cây trượng, mà là tiên tặng cho cây gậy và cái nón).
Trên cơ sở vấn đề được đặt ra, đã trình bày ở phần trên về giá trị tín ngưỡng của ngài Chử Đồng Tử; nếu so sánh với tư tưởng của Lão tử qua cuốn “Đạo Đức Kinh” có thể đi đến một nhận xét về sự tương đồng giữa tư tưởng của Lão tử và Chử Đồng Tử. Trong “Đạo Đức Kinh” – tương truyền là của Lão tử – có thể cho rằng: nếu “Mẹ tròn, con vuông” là Lý của Thái Cực và sự khởi nguyên của Âm Dương theo quan niệm vũ trụ quan Văn Lang, thì Đạo Đức Kinh chính là Lý của Âm Dương. Bạn đọc có thể tìm thấy những ý tưởng tương tự qua những đoạn văn sau đây:

Sang (Dương) lấy hèn (Âm) làm gốc; Cao (Dương) lấy thấp (Âm) làm nền (*).
Hoặc:
Không muốn được quí như ngọc
 (không Dương), bị khinh như sỏi (tất Âm) (*)

* Chú thích: trích dẫn trong “Lão Tử – Đạo Đức Kinh”. Nguyễn Hiến Lê. Nxb VHTT 1994.


Lão tử
Nếu như tư tưởng “Đạo Đức Kinh” hướng con người trở về với bản thể thì cuộc đời và sự nghiệp của ngài Chử Đồng Tử, trong một bối cảnh xã hội đã coi thuyết Âm Dương Ngũ hành có nguồn gốc Thái Cực (Đạo) là ý thức hệ chính thống thì hoàn toàn có khả năng dẫn đến một lý thuyết tương tự.
Từ trước thời nhà Tần và kết thúc vào năm 208 tr.CN - ngọai trừ Đạo Đức Kinh - các nhà Lý học Trung Hoa không có trước tác nào nói đến sự khởi nguyên của vũ trụ. Mặc dù theo truyền thuyết và cổ thư Trung Hoa có đặt vấn đề này trong kinh Dịch: Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Nhưng đây chỉ là một hiện tượng, không thể coi là một học thuyết. Trong Đạo Đức Kinh, Lão tử bàn đến những vấn đề căn nguyên của vũ trụ. Ngài quan niệm về khởi nguyên của vũ trụ: Không – là cái bản thủy của trời đất;  – là mẹ sinh ra vạn vật”

(Vô - danh thiên hạ chi thủy. Hữu - danh thiên hạ chi mẫu) (*)

So sánh quan điểm vũ trụ quan của Lão tử qua đoạn trích dẫn ở trên với quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang qua câu tục ngữ “Mẹ tròn con vuông” và hình tượng bánh Chưng bánh Dầy thì hai quan điểm này nếu không phải là hoàn toàn, cũng gần như hoàn toàn trùng khớp.
Thái Cực – Dương tương ứng với cái “Không” của Lão tử.
Âm – lý của Ngũ hành nằm trong bánh Chưng là nguồn gốc của vạn vật, tương ứng với cái “Có” là mẹ sinh ra vạn vật.
Có thể nói rằng: quan điểm vũ trụ quan của Lão tử chính là sự diễn đạt dưới một hình thức khác quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang; hoặc chính là sự bổ sung làm rõ hơn ý nghĩa của câu tục ngữ “Mẹ tròn con vuông” và hình tượng bánh chưng, bánh dầy.
Nếu như thuyết Âm Dương Ngũ hành lý giải hiện tượng khởi thủy của vũ trụ thì Lão tử nói về năng lực chi phối sự vận động, hình thành và phát triển của vũ trụ. Ngài cho rằng năng lực đó là Đạo và đây là nền tảng cơ bản để hình thành Đạo giáo sau này. Ngài cho rằng:

“Đạo là cái gì chỉ mập mờ thấp thoáng, thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng; mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vạn vật; nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy đó rất xác thực và rất đáng tin” (*).
“Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt; không thể gọi tên nó lại trở về với cõi vô vật; cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể. Nó thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi” (*).


* Chú thích: trích dẫn trong “Lão Tử – Đạo Đức Kinh”, sách đã dẫn.

Sự lý giải về Đạo của Lão tử có thể khẳng định rằng đó là sự lý giải bằng một hình thức khác ý niệm của Thái Cực từ văn minh Lạc Việt. Văn minh Lạc Việt – qua nội dung ”Mẹ tròn, con vuông” – quan niệm Thái Cực là thể bản nguyên của vũ trụ trong đó không có cái “Có” để nói đến cái “Không”, tràn đầy viên mãn, tức là không có sự phân biệt. So với ý niệm của Lão tử “Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt” hoàn toàn tương ứng với tính không phân biệt, tràn đầy viên mãn; cũng có thể gọi là “trạng không có hình trạng, tượng không có vật thể”, khó diễn đạt cho nên nói “thấp thoáng mập mờ”; viên mãn tràn đầy cho nên nói “đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi”. Thái Cực là thể bản nguyên của vũ trụ, gốc của vạn vật, cho nên nói “bên trong có hình tượng” “có vạn vật”.
Như chương I đã chứng minh: thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Văn Lang đã xuất hiện từ buổi đầu lập quốc, tức là trước Lão tử xấp xỉ 2000 năm. Sự trùng hợp về ý niệm trong hệ tư tưởng vũ trụ quan trong Đạo Đức Kinh với văn minh Lạc Việt, đã chứng tỏ những vấn đề sau:
@ Phủ nhận tất cả những tác giả được coi là phát minh ít nhất ra thuyết Âm Dương, khi Lão tử được coi là người đầu tiên đề xướng quan điểm vũ trụ quan trong xã hội Trung Hoa cổ đại.
@ Lão tử đã kế thừa từ vũ trụ quan Văn Lang để hướng tới một nhân sinh quan theo quan điểm của ông và là tiền đề của Đạo giáo. Như vậy đã chứng tỏ rằng: Lão tử là người có nguồn gốc từ Văn Lang, nhưng đã sang sinh sống ở phần đất nhà Chu hoặc là Đạo Đức Kinhđược phát hiện sau khi Văn Lang mất nước.
Đạo Đức Kinh là một tác phẩm từ trước đến nay vẫn được các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng thuộc về nền văn minh Trung Hoa và thời điểm ra đời của nó xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến quốc. Nhưng trong xấp xỉ 5000 từ của Đạo Đức Kinh, không hề để lại một dấu ấn nào thể hiện thời kỳ lịch sử này của xã hội Trung Hoa. Ngược lại, trong tác phẩm này, ngoài những vấn đề liên quan đến hệ tư tưởng vũ trụ quan của người Lạc Việt như đã trình bày ở trên, lại có những dấu ấn của xã hội Văn Lang; có thể lấy làm ví dụ điển hình cho sự liên quan đến xã hội Văn Lang, đó là câu:

“Bắt dân dùng lại lối thắt dây thời thượng cổ” (*)

(*) Chú thích: trích dẫn trong “Lão Tử – Đạo Đức Kinh”, sách đã dẫn.

Về việc “Chính sự dùng lối thắt nút” đã được trình bày ở chương I, điều này chỉ có thể khẳng định một cách hợp lý là: đó là công việc 207 của những nhà lãnh đạo Văn Lang có từ gần 3000 năm tr.CN. Điều này khẳng định rằng Đạo Đức Kinh của Lão tử hoàn toàn là một trước tác có nguồn gốc từ nền văn minh Văn Lang. Lão tử được coi là tổ của Đạo giáo; do đó hoàn toàn có cơ sở để cho rằng Đạo giáo chính xuất phát từ nền văn minh này. Hiện tượng “Chính sự dùng lối thắt nút” được nói tới trong Đạo Đức Kinh cũng đồng thời chứng tỏ rằng: Thời Hùng Vương không thể tồn tại vài trăm năm; bởi vì:

@ Nếu cho rằng Lão tử là người thuộc nhà Chu thì phải chăng “Chính sự dùng lối thắt nút” của các vua Hùng ở thời điểm thế kỷ thứ VI hoặc VII tr.CN (theo quan điểm lịch sử mới) mà “Việt sử lược” nói tới là tiếp thu của nền văn minh Trung Hoa có từ hơn 3000 năm trước? Đây hoàn toàn là một sự vô lý và không thể lý giải được sự liên hệ của
nó.
@ Nhưng khi khẳng định Lão tử là người gốc Lạc Việt, thì thời điểm xuất hiện Đạo Đức Kinh (được coi là tương đương với Khổng tử hoặc lùi vào thời Chiến quốc?) không thể coi thời Chu Trang Vương tức là thời điểm lập quốc của Văn Lang (theo quan điểm lịch sử mới về thời Hùng Vương) là thời thượng cổ được.

Điều này chỉ có thể có một nhận xét hợp lý, khi cho rằng: đất nước Văn Lang đã tồn tại gần 3000 năm và “Chính sự dùng lối thắt nút” là công việc của những nhà lãnh đạo Văn Lang có ngay từ buổi đầu lập quốc, tức là thời thượng cổ mà Lão tử nói tới.
Vào đầu thời Hùng Vương thứ XVIII về thời gian tương đương với sự xuất hiện “Đạo Đức Kinh” của Lão tử, đồng thời có sự tương đồng về tư tưởng của Lão – Chử với những hiện tượng liên quan đến văn minh Văn Lang đã trình bày ở trên. Trong truyền thuyết Việt Nam, Chử Đồng tử và công chúa Tiên Dung biến mất khi kết thúc câu chuyện và sự xuất hiện huyền ảo của Lão tư, ở cùng một khoảng thời gian và trong không gian của hai quốc gia láng giềng với những giá trị tư tưởng gần như hoàn toàn trùng hợp. Do đó, hoàn toàn có cơ sở để đặt vấn đề về tác giả của Đạo Đức Kinh – nếu do Lão tử viết – thì Lão tử và Chử Đồng tử chỉ là một người duy nhất. Đây cũng là một vấn đề đã được nhiều học giả nghi vấn.
Đoạn dưới đây được trích lại trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam nhận xét của giáo sư Trần Văn Giàu để bạn đọc tham khảo:

Giáo sư Trần Văn Giàu có viết: “Tư tưởng tín ngưỡng Đạo giáo ... sẵn có từng phần lớn trong nhân dân Việt Nam từ nguyên thủy và trong cả quá trình lịch sử, người Việt chưa có lúc nào chế tạo được cái tên chung để đặt cho loại tín ngưỡng đó, riêng những người nghiên cứu nhận thấy tư tưởng tín ngưỡng đó cùng bản chất với Đạo giáo nên xếp vào một loại vậy thôi”.

Những luận điểm này giải thích vì sao Chử Đồng tử được coi là một trong bốn vị thần hộ quốc của người Lạc Việt.
Dấu ấn của ngài Chử Đồng Tử trong phong tục của nguời Việt Nam
Dưới thời Hùng Vương, tín ngưỡng của Ngài Chử Đồng tử có thể được đông đảo người tin theo mà dấu ấn còn để lại đến tận bây giờ; đó là tục thờ các vị thần với tư cách là một tín ngưỡng, bên cạnh những vị thần có công trạng với đất nước.

Hình ảnh còn lại của tín ngưỡng đầu tiên của dân tộc Việt ngày nay, chính là cây Nêu trong những ngày Tết ở Việt Nam. Mặc dù truyền thuyết về cây Nêu hoàn toàn thể hiện dấu ấn của Phật giáo: Đức Phật hiện thân đuổi quỉ cứu người và để lại cây Nêu. Nhưng tục trồng cây Nêu với tư cách là một tín ngưỡng đặc thù, hơn là một hệ quả của một giáo lý phổ biến là Phật giáo (chỉ ở Việt Nam, hoặc có thể ở những vùng ảnh hưởng của văn minh Văn Lang cũ mới có cây Nêu; còn những vùng ảnh hưởng Phật giáo khác trên thế giới không có tục này). Điều này được lý giải như sau:


Một trong những giáo lý căn bản của Phật giáo quan niệm rằng: mọi hậu quả của con người nhận lãnh – hạnh phúc hay đau khổ – đều có nguyên nhân do chính con người tạo ra trong đời hiện tại hoặc kiếp trước, gọi là nghiệp báo. Muốn loại trừ nghiệp báo thì phương pháp duy nhất là bản thân không tác nghiệp. Sự quấy phá của ma quỷ theo quan điểm của Phật giáo cũng là một loại nghiệp báo. Việc sử dụng
thần thông (cây Nêu) để loại trừ ma quỷ, hay nói cách khác là sử dụng một phương pháp khác để loại trừ nghiệp báo, không phải do bản thân tu tập (không tác nghiệp); điều này đi ngược lại giáo lý căn bản của Phật giáo. Vì vậy, sự tích cây Nêu mang dấu ấn Phật giáo và tục trồng cây Nêu không thể do các thiền sư tạo dựng và phổ biến. Trong lịch sử Phật giáo cũng không ghi nhận điều này. Vì vậy có thể khẳng định rằng: tục trồng cây Nêu là một tín ngưỡng riêng của người Lạc Việt có từ thời Hùng Vương, tồn tại trong sự che chở bằng dấu ấn của Phật giáo trong thời đô hộ. Có thể truyền thuyết cây Nêu mang đến dấu ấn Phật giáo có từ thời nhà Minh. Đây là thời kỳ lịch sử ghi nhận sự đô hộ rất hà khắc, đặc biệt là sự tiêu diệt nền văn hóa Đại Việt. Do đó, tổ tiên ta vào thời kỳ này, để bảo vệ di sản văn hóa đã đặt ra câu chuyện “Sự tích cây Nêu” mang dấu ấn Phật giáo – là tín ngưỡng cũng phổ biến ở Trung Quốc. Do tục trồng Nêu trải qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử nên đã mất đi nội dung đích thực của nó, tương tự như trường hợp bánh Chưng, bánh Dầy và chỉ còn mang tính chất thể hiện như một phong tục truyền thống. Vì vậy, khi có một nội dung mới – mặc dù không phản ánh đúng thực tế và được gán ghép – nhưng vẫn được chấp nhận và phổ biến đến tận bây giờ.
Hơn nữa, hình ảnh cây Nêu thể hiện một ý thức vươn lên (cây tre cột Nêu) để đạt tới sự hòa nhập với vũ trụ (vòng tròn phía trên cây tre) phù hợp với hình ảnh cuối cùng của hai thần vật của ngài Chử Đồng tử: cái nón đặt trên đầu cây gậy cắm xuống đất, biến thành cung điện lâu đài để ngài trú qua đêm, tại nơi mà sau này gọi là Đầm Nhất Dạ. Vòng tròn cũng là biểu tượng của Dương, của giá trị tâm linh và cũng là của Thái Cực; sự khởi nguyên của vũ trụ và cũng là mục đích đạt tới của Đạo giáo.


Dấu ấn của nền văn hiến Lạc Việt. trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và đạo giáo
Hạc và Rùa biểu tượng độc đáo của nền văn minh Lạc Việt

Từ những luận điểm đã trình bày ở trên dẫn đến một sự liên hệ tiếp nối và giải thích một dấu ấn liên quan đến nền văn minh Văn Lang và Đạo giáo. Đó chính là hình ảnh con hạc đứng trên lưng con rùa. Đây là một hình ảnh rất phổ biến ở tất cả các đình đền thờ thánh thần của Việt Nam và ở cả những vùng Nam Trung Quốc; kể cả Triều Tiên, Nhật Bản. Sự phổ biến của hình tượng Hạc và Rùa ở khắp những vùng có ảnh hưởng của văn hoá Đông Phương, đã chứng tỏ tính biểu tượng được lựa chọn có ý thức cho một giá trị văn hóa của nó.
Tại sao con hạc lại đứng trên lưng con rùa? Tất nhiên không thể giải thích đơn giản rằng: tại vì con hạc chăm chỉ thông minh, còn con rùa chậm chạp nên bị Thượng đế bắt phạt phải làm nền cho con hạc đứng chầu tiên thánh.
Ông cha ta đã để lại một câu ca dao độc đáo mà có lẽ cũng nhiều người biết:


Thương thay thân phận con rùa,
Trong đền đội hạc, ngoài đình đội bia.

Nhưng tại sao người xưa lại chọn biểu tượng này?
Trước hết, chúng ta bắt đầu tìm hiểu từ hình ảnh con rùa. Đây là một linh vật biểu tượng cho nền văn minh Văn Lang: đó là phương tiện chuyển tải chữ viết của ông cha ta, mà dấu ấn xưa nhất đã được ghi nhận trong sách Thông Chí của Trịnh Tiều (đã trình bày ở phần trên). Giống rùa lớn chỉ có ở miền Nam sông Dương Tử đã bị tuyệt chủng, nhưng hình tượng con rùa là phương tiện chuyển tải những giá trị tinh thần là một hình ảnh truyền thống từ ngàn xưa của người Lạc Việt.


Rùa đội bia
Trong miếu Hà Nội

Từ đó hình thành biểu tượng con rùa đội bia ở các đình đền mà hình ảnh tập trung nhất chính là ở Văn Miếu Hà Nội. Nhưng những con rùa ở trước điện thờ thì không đội bia mà đội trên lưng nó con chim hạc. Từ đó có thể suy luận rằng: con chim hạc phải là một biểu tượng cô đọng thay thế cho những gì mà loài rùa đã mang trên lưng nó. Xét hình dáng chim hạc có những nét đặc trưng giống hệt hình tượng chim Lạc đã cách điệu trên trống đồng Lạc Việt. Bạn đọc cũng dễ dàng nhận thấy điều này ở hai hình trình bày sau đây.



Từ sự giống hệt giữa hai hình tượng này, kết hợp với biểu tượng con rùa đặc trưng cho sự chuyển tải những giá trị tinh thần của nền văn minh Văn Lang, có thể kết luận rằng: chim hạc trong đình đền chính là chim Lạc trên trống đồng – biểu tượng của nền văn minh Văn Lang mà con rùa từ ngàn xưa vốn là phương tiện chuyển tải. Với nhận xét trên thì có thể cho rằng:
Tín ngưỡng thờ thần thánh ở đình đền thuộc về nền văn minh Lạc Việt, mà những người có tín ngưỡng có thể tìm thấy nguồn gốc của nó ở hình ảnh con chim Lạc đứng trên lưng con Rùa.
Luận điểm này bổ sung và chứng minh rõ nét hơn về Đạo giáo và Lão tử có xuất xứ từ văn minh Lạc Việt, khi tục thờ Tiên, Thánh là nội dung của Đạo giáo.
 Bùa chú và thuyết Âm Dương Ngũ Hành

Để minh họa quan điểm cho rằng: những tư tưởng tín ngưỡng liên quan đến Đạo giáo có nguồn gốc từ thuyết Âm Dương Ngũ hành, xin bạn đọc xem và so sánh những hình ảnh dưới đây.
Hình bên được chép lại từ cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”. Đó là một lá bùa dân gian nhằm mục đích trừ tà, trị bệnh, trấn trạch, đem lại sự bình an cho gia đình. Tất nhiên nó xuất phát từ một tín ngưỡng tin vào những khả năng siêu nhiên mà con người có thể sử dụng để làm thay đổi số phận của mình. Người ta tin rằng: để có những khả năng siêu nhiên này, người thực hiện nó phải là những người đã tu tập theo một thứ tín ngưỡng liên quan đến Đạo giáo (phù thủy hoặc đạo sĩ). Nhưng như phần trên đã trình bày, trong một xã hội như Văn Lang, đã có một hệ thống tư tưởng chính thống là Âm Dương Ngũ hành, thì khó có thể có một thứ tín ngưỡng vượt ra ngoài những giá trị của nó. Bạn đọc có thể so sánh hình con cọp trong lá bùa nói trên với hình trong tranh dân gian dưới đây. Đó là một bức tranh dân gian thuộc dòng tranh Hàng Trống vẽ một “Ông Ba Mươi”. Tùy theo màu sắc mà ngài đại diện cho một hành thuộc Ngũ hành, mà thuyết Âm Dương Ngũ hành là học thuyết chủ đạo trong xã hội Văn Lang. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận thấy rằng “Ông Ba Mươi” này giống hệt con cọp trong lá bùa ở hình bên. Sự giống nhau đến mức đáng kinh ngạc này, chứng tỏ sự liên quan giữa tín ngưỡng của ngài Chử Đồng tử với một học thuyết vũ trụ quan chính thống của thời Hùng Vương. Bạn đọc có thể thắc mắc về những chữ Hán trên lá bùa đã chứng tỏ có thể nó xuất hiện từ thời Bắc thuộc hoặc từ thời nước Việt hưng quốc về sau. Điều này có thể giải thích rằng: rất có thể trước đó lá bùa không có chữ Hán, nhưng vào thời Bắc thuộc



Một nhận định khác về truyền thuyết Nhất Dạ Trạch và những vấn đề liên quan. Về nội dung Truyền thuyết Đầm Nhất Dạ cũng có vài ý kiến khác hẳn nhau và khác với nhận định của người viết. Hầu hết những ý kiến đó – theo cái nhìn của người viết – mang tính khiên cưỡng và chủ quan. Nhưng có nhận định của ông Lê Mạnh Thát rất đáng chú ý vì được minh chứng với nhiều tư liệu liên quan. Vì vậy, để bạn đọc tiện tham khảo và so sánh với nhận định của người viết, xin trình bày đoạn sau đây được trích dẫn trong sách “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”. Tập I (*). Lê Mạnh Thát. Nxb Thuận Hoá – Huế 1999:
* Chú thích: Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập I. Sách đã dẫn. Trang 12 đến 27.
Lại bài tựa truyện pháp của tướng quốc Quyền Đức Dư (1) đời Đường nói: “Sau khi Tào Khê (2) mất đi, thiền pháp thịnh hành, đều có thừa kế. Chương Kính uẩn thiền sư (3) dùng tâm ấn của Mã Tổ hành hoá ở Ngô, Việt. Vô Ngôn Thông đại sĩ, đem tôn chỉ của Bách Trượng khai ngộ tại Giao Châu”. Đó là những chứng cứ vậy.
Cứ câu trả lời này, thì trước khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, Việt Nam đã có một nền Phật giáo hoàn chỉnh, tức bao gồm chùa chiền, một đoàn thể Tăng sĩ và kinh sách đầy đủ. Theo Thông Biện, thì ở nước ta lúc bấy giờ “có chùa hơn 20 ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển”. Điều đáng tiếc là Thông Biện không cho ta biết nền Phật giáo hoàn chỉnh này, với số chùa chiền kinh sách và tăng sĩ như vậy, xuất hiện vào lúc nào. Ông chỉ bằng lòng lập lại lời của Đàm Thiên (4), bảo rằng đó là vào lúc “Giang Đông chưa có” Phật giáo. Giang Đông chưa có Phậ tgiáo, thì ngay cả bản tiểu sử của Khương Tăng Hội (?-280) trong sách Xuất Tam Tạng Ký Tập, tập 13, Đại Tạng Kinh 2145, tờ 96a 29 – 97a17 và trong Cao Tăng Truyện quyển 1, Đại Tạng Kinh 2059 tờ 325a 13 – 326b 13, cũng bảo “bấy giờ Tôn Quyền (1) xưng đế Giang Tả (năm 222 sdl) mà Phật giáo chưa lưu hành”. Thế cũng có nghĩa ngay vào những năm 220 sdl, Phật giáo chưa có mặt ở Giang Đông. Vậy phải chăng nên Phật giáo hoàn chỉnh vừa nói chỉ tồn tại vào thế kỷ thứ II – thứ III sdl?


Chú thích:
(1) Xem Lê Mạnh Thát, Thiền uyển tập anh. Tu thư Vạn Hạnh, 1976, chú thích 20, tr.207. Quyền Đức Dư (757-818) làm tể tướng dưới thời Đường Hiến Tôn. Bài tựa cho cuốn sách nhan đề truyền pháp này ngay nay đã thất lạc.
(2) Tức Lục tổ Huệ Năng.
(3) Tức thiền sư Hoài Uẩn (?-818) chùa Chương Kính ở Kinh Triệu. Xem Truyền đăng lục 7 tờ 252b19-c23
(4) Tiểu sử Đàm Thiên đời Tuỳ được ghi trong Đàm Thiên pháp sư truyện, Tục Cao Tăng truyện 18 tờ 571b 12 – 574b 6, sinh năm 542 mất năm 607, thọ 66 tuổi. Còn một Đàm Thiên khác người Kinh sư, đời Tề, được ghi trong Cao Tăng truyện 13 tờ 413a 18 – 26, nhưng không phải Đàm Thiên đời Tuỳ vốn có nhiều quan hệ mật thiết với Tùy Cao Tổ và đặc biệt về việc cúng dường Xá – lợi như kể trong tiểu sử Thông Biện trên đây. Xem Lê Mạnh Thát, Thiền Uyển Tập Anh, ghi chú 15, 16 & 19, tr.204 – 207.
(1) Tức Ngô Tôn Quyền, lên ngôi năm 222 mất tháng 4 năm Thần Phượng thứ nhất (262), thọ 70 tuổi.
(2) Đài Loan, Học sanh thư cục ấn hành, 1986, do Trần Khánh Hạo chủ biên, theo Publications de l Ecole francaise d Extrême-Orient, gồm 7 tập.
(3) Viện Văn học, Thơ Văn Lý Trần III, Hà Nội: NXB Khoa học xã hội, 1978, tr.657.

Sư Phật Quang và di tích đầu tiên của Phật giáo Việt Nam
Trả lời câu hỏi này, ta may mắn có một tài liệu viết gần cùng thời với Thiền Uyển Tập Anh là Lĩnh Nam trích quái. Truyện Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam trích Quái ghi lại việc Chử Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (cũng có bản viết Quỳnh Vi) truyền dạy giáo lý Phật giáo. Xưa nay Lĩnh Nam trích quái thường được xếp vào loại truyện thần thoại hay huyền sử. Thậm chí bộ Việt Nam Hán văn Tiểu thuyết Tùng san (2), tập I, mới xuất bản gần đây cũng làm thế. Tuy nhiên, khi đi sâu vào nghiên cứu nội dung của Lĩnh Nam trích quái, ta mới thấy rõ Lĩnh Nam trích quái không chỉ đơn thuần là tập hợp những chuyện thần thoại, thậm chí những chuyện thần thoại hoang đường. Trái lại, nó chứa đựng nhiều sự kiện có thực, mà trường hợp núi Quỳnh Viên của chúng ta đây là một thí dụ cụ thể.
Núi Quỳnh Viên này, những người chủ biên Thơ văn Lý Trần đã chú thích là: “một quả núi trong truyện thần thoại” (3). Dẫu thế, nếu chịu khó đọc Minh lương cẩm tú do Lê Thánh Tông viết về 13 cửa biển của đất nước ta trong khi tiến quân chinh phạt Chiêm Thành vào năm 1470, thì ta gặp bài thơ thứ 7, nói về “Nam giới hải môn lữ thứ”, trong đó có 2 câu:

Di miếu man truyền kim Vũ Mục
Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên.

Dịch:
Di miếu còn truyền nay Vũ Mục
Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên.

Vũ Mục đây tức là tướng Lê Khôi, cháu ruột của Lê Lợi. Năm Thái Hoà thứ 2 (1444) đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Bí Cái, khi trở về đến cửa biển Nam Giới thì mất. Dân thương nhớ, lập đền thờ tại cửa biển này. Cửa biển này còn được gọi là cửa Sót. Còn núi Quỳnh Viên nằm ở phía Nam cửa bể này và từ thời Lê Thánh Tôn đã được xác nhận là một danh sơn, tức một hòn núi có tiếng tăm của đất nước. Và tiếng tăm này là có từ xưa, chứ không phải đợi đến từ thời Lê Thánh Tôn, tức từ năm 1460 trở đi mới có. Ngay cả khi ta đồng ý với Lê Quí Đôn trong Toàn Việt thi lục và Bùi Huy Ích trong Hoàng Việt thi tuyển và xếp các bài thơ về 13 cửa biển này vào loại “vô danh thị”, thì việc nói “ông Vũ Mục ngày nay” (kim Vũ Mục) và “núi Quỳnh Viên thuở xưa” (cổ Quỳnh Viên) vẫn không đánh mất thời điểm của bài thơ. Lý do nằm ở chỗ nếu đã nói Lê Khôi là ông Vũ Mục thời nay, và Lê Khôi mất vào năm 1444, thì rõ ràng tác giả nó cũng phải sống vào thời Lê Khôi này, tức khoảng từ 1444 trở đi hay không lâu sau đó.
Nói thẳng ra, vào thế kỷ thứ XV, khi Kiều Phú và Vũ Quỳnh hiệu đính và cho ra đời hai bản Lĩnh Nam trích quái khác nhau, Quỳnh Viên đã thật sự là một danh sơn, một ngọn núi nổi tiếng đối với dân ta thời đó và trước kia. Nó dứt khoát không phải là một ngọn núi thần thoại, càng không phải là một ngọn núi không có địa điểm cụ thể tại đất nước ta. Nó quả là một ngọn núi nằm tại cửa Sót. Và trên núi Quỳnh Viên này còn có ngôi chùa cổ. Bản Lĩnh Nam trích quái mà ta có ngày nay thì hoặc do Kiều Phú kiểu chính lại vào năm 1490 hoặc do Vũ Quỳnh san định vài năm sau đó, vào năm 1493, từ một bản Lĩnh Nam trích quái của Trần Thế Pháp đời Trần. Như vậy nếu Lĩnh Nam trích quái mà ta có ngày nay nói tới núi Quỳnh Viên, thì dứt khoát núi Quỳnh Viên này phải có một địa chỉ cụ thể. Vì thế, khi Chử Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang truyền dạy đạo Phật tại núi Quỳnh Viên, ta có thể chắc chắn sự việc này đã xảy ra tại cửa biển Nam Giới hay cửa Sót.Ta có thể đặt vấn đề là nếu quả có ngọn núi Quỳnh Viên tại cửa Sót, thì việc truyền dạy giáo lý của nhà sư Phật Quang cho Chử Đồng Tử chắc gì đã xảy ra ở đó, bởi vì việc truyền dạy xảy ra quá xa cách thời điểm nó ghi lại trong Lĩnh Nam trích quái. Nói cụ thể ra, Lĩnh Nam trích quái đã ghi lại một sự việc xảy ra cách nó gần tới cả ngàn rưỡi năm. Tất nhiên, trừ phi ta thực hiện một cuộc khai quật khảo cổ học tại núi Quỳnh Viên ở cửa Sót và tìm thấy di vật liên hệ với Chử Đồng Tử, thì vấn đề mới được giải quyết một cách dứt điểm. Nhưng trước mắt, nếu chưa làm được, song qua phân tích những truyện khác trong Lĩnh Nam trích quái, ta thấy dù Lĩnh Nam trích quái có được Trần Thế Pháp biên tập lại vào hậu bán thế kỷ 14, thì những dữ kiện trong đó vẫn có một tính cổ sơ đáng muốn.
Chẳng hạn, khi nghiên cứu về truyền thuyết Trăm trứng trong truyện họ Hồng Bàng, ta thấy truyền thuyết này đã xuất hiện trong Lục độ tập kinh 3 ĐTK152 tờ 14a 26 - cl8 truyện 23 do Khương Tăng Hội dịch ra chữ Hán vào khoảng những năm 220 – 250 (*). Cũng một cách, truyện Tây Qua của Lĩnh Nam trích quái là một dị bản của truyện 7 trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, ĐTK206 tờ 512a 16 – b7, cũng do Khương Tăng Hội phiên dịch, v.v. Nói khác đi, dù những truyện do Trần Thế Pháp tập hợp lại trong Lĩnh Nam trích quái xảy ra tương đối muộn, nhưng có những dữ kiện đã được chứng minh là xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học nước ta. Do thế, truyền thuyết về Chử Đồng Tử được nhà sư Phật Quang dạy đạo Phật cũng có khả năng xảy ra rất sớm trong lịch sử dân tộc, chứ không phải vì sự xuất hiện muộn màng trong Lĩnh Nam trích quái mà mất đi tính trung thực và cổ sơ của nó.


(*) Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội toàn tập, tập I, tr. 358-361. 

Vậy nhà sư Phật Quang này xuất hiện ở cửa Sót vào thời nào? Qua những chứng cớ ngoại tại, gián tiếp vừa kể trên, tối thiểu ta biết là những gì Lĩnh Nam trích quái ghi lại chưa hẵn là không xảy ra, hay không có từ xưa. Cụ thể là truyện về truyền thuyết Trăm Trứng. Không kể các dã sử hay những thông tin bên ngoài, cứ theo chính sử Trung Quốc cũng đã ghi là có các chính quyền phương nam đi thông qua nước ta để đến phương bắc, đó là chính quyền nước Hoàng Chi. Bình Đế Kỷ trong Tiền Hán thư 12 tờ 4a 3 ghi: “Nguyên thuỷ thứ 2 (năm thứ 2 sdl), mùa xuân, nước Hoàng Chi dâng tê giác và bò”. Rồi đến quyển 28 hạ, Tiền Hán thư tờ 32b 2 – 3, nơi chuyện Vương Mãng, cũng ghi: “Trong khoảng Nguyên thuỷ (1 – 6 sdl) của Bình đế, Vương Mãng phụ chính, muốn làm rạng rỡ uy đức của mình đã gửi biếu hậu hỹ vua Hoàng Chi khiến cho gửi sứ cống tê giác và bò sống”. Nước Hoàng Chi này, cứ Tiền Hán thư 28 hạ, tờ 32b 3 – 5, còn ghi tiếp: “Từ Hoàng Chi đi thuyền có thể tám tháng đến Bì Tôn, rồi đi thuyền hai tháng có thể đến biên giới Tượng Lâm của Nhật Nam. Phía nam Hoàng Chi có nước Dĩ Trình Phất. Dịch sứ của Hán từ đó về”.
Thế rõ ràng Hoàng Chi là một nước rất xa nước Hán, đi thuyền đến mười tháng mới đến. Ghi nhận đầu tiên của chính sử Trung Quốc về sự liên hệ giữa chính quyền Trung Quốc và chính quyền Hoàng Chi là Hoàng Chi ở phía tây nước ta và phải đi thông qua nước ta mới đến Trung Quốc được. Hoàng Chi là nước nào? Có khả năng Hoàng Chi đây là một trong những nước ở Ấn Độ. Cho nên, nói cách khác, từ những năm đầu Dương lịch, quan hệ chính thức giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã có về đường biển và đã được chính sử Trung Quốc ghi lại. Sau đó, từ thế kỷ thứ hai trở đi thì quan hệ giữa An Độ và Trung Quốc đã được ghi rất rõ, cho nên khả năng trước khi có quan hệ chímh thức trên bình diện chính quyền thì phải có quan hệ nhân dân; tức quan hệ giữa hai dân tộc phải đi với nhau rồi hai chímh quyền mới đi theo, hoặc để bảo trợ quyền lợi của dân tộc mình hoặc để thiết lập quan hệ ngoại giao. Cho nên khả năng những thương thuyền buôn bán của người Ấn Độ đã đến Trung Quốc trước thời Vương Mãng từ lâu là một sự thật.
Thực tế thì ngay trong Sử ký ta đã tìm thấy những từ tiếng Phạn được phiên âm ra tiếng Trung Quốc, cụ thể là từ lưu ly, vaidurya. Tức là nước Trung Quốc đã biết nước Ấn Độ từ lâu. Nói cách khác, từ những thế kỷ đầu dương lịch, quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã thiết lập và có quan hệ buôn bán giữa thương nhân hai nước (*). Tiền Hán thư 9, tờ 3a 3 – 6 (truyện Tây nam di lưỡng Việt Triều Tiên đã nói việc thương nhân nước Thục đem vải và gậy trúc Thân độc về Trung Quốc bán vào năm Nguyên thú thứ nhất (120 tdl). Và truyện Vương Mãng ghi vì “ muốn làm rạng rỡ uy đức của mình, (ông) đã hậu hĩ vua nuớc Hoàng Chi và khiến dâng tê giác và bò sống”, có nghĩa hai chính quyền đã có mối quan hệ bang giao từ lâu. Mà trước khi Vương Mãng biết đến nước nay thì người nước này đã có quan hệ với Trung Quốc rồi, cho nên Vương Mãng mới biết để khiến dâng vật cống với mục đích làm cho hai nước quan hệ chính quyền với nhau. Nói cách khác vào những thế kỷ trước và sau dương lịch, đã có những quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khác về đường biển thơng qua Việt Nam. Cho nên giả thiết sự tồn tại của nhà sư Phật Quang giữa thế kỷ thứ III hay thứ II tdl có thể chứng thực được.


(*) Chú thích: Sầm Trọng Miễn, Nha phiến chiến tranh dĩ tiền Hán ngữ trung đích tá từ, Trung Sơn Đại học học báo 4 (1959) 146 – 154.
Về nhà Sư Phật Quang
Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam trích quái kể lại việc Chử Đồng Tử họ được đạo Phật như sau:
“Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán kính thờ Tiên Dung (và) Đồng Tử làm chúa. Có một khách buôn lớn đến bảo Tiên Dung rằng: “Quí nhân hãy bỏ ra một dật vàng năm nay cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí, đến sang năm được lãi mười dật”. Tiên Dung vui mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng ta là bởi Trời mà nên. Nhưng cái ăn cái mặc là do người làm lấy. Nay nên đem một dật vàng cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí để sinh sống”. Đồng Tử bèn cùng thương nhân đi buôn bán lênh đênh ra khắp nước ngoài. Có núi Quỳnh Viên trên núi có am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước. Đồng Tử lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu Tăng tên Phật Quang truyền pháp cho Đồng Tử. Đồng Tử ở lại để nghe pháp, đưa vàng cho thương nhân đi mua hàng. Đến lúc thương nhân trở về lại tới am đó chở Đồng Tử trở về nhà. Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: “Các việc linh thông đều ở đó rồi”. Đồng Tử trở về, đem đạo Phật nói hết với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ nghề buôn để cùng Đồng Tử du phương tìm thầy học đạo”.
Việc Chử Đồng Tử và Tiên Dung, những người Việt Nam đầu tiên mà ta biết tên tiếp thu đạo Phật là như thế. Có hai đặc điểm mà ta cần lưu ý. Thứ nhất, việc tiếp thu này đã xảy ra tại núi Quỳnh Viên. Núi Quỳnh Viên từ thời Lê Thánh Tôn ta đã biết là nằm tại của Nam Giới, hay cửa Sót. Ngày nay, tại bờ nam của cửa Sót, còn có một hòn núi gọi là Nam Giới sơn (1). Phải chăng đây là địa điểm cần tìm hiểu khảo cổ học để khai quật xem có vết tích gì của Chử Đồng Tử và Phật Quang chăng? Trước mắt, ít nhất ta đã xác định được là Quỳnh Viên không phải là một ngọn núi thần thoại, mà thật sự là một hòn núi có tên tuổi tại cửa Sót. Do những dấu vết của Chiêm Thành còn tồn tại đến ngày nay, ta cũng hiểu thêm từ cửa Sót về nam là miền đất thuộc vương quốc Chiêm Thành. Như thế, đất nước Việt Nam thời Hùng Vương phải chăng đã lấy cửa Sót làm một địa điểm của miền cực nam của tổ quốc ta?
Cần lưu ý, từ vùng cửa Sót trở ra miền bắc, ta không tìm thấy có bất cứ di chỉ nào liên hệ với nền văn hóa của Chiêm Thành. Ngược lại, từ cửa Sót trở về nam, cụ thể là các vùng phía nam tỉnh Nghệ An, tức từ Vinh trở về nam và các tỉnh Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, cho đến ngày nay, vẫn còn những vết tích của nền văn hóa Chiêm Thành. Nói thế, tức là muốn nói Phật giáo truyền vào nước ta căn cứ vào Lĩnh Nam trích quái là từ phía nam, qua trung gian nhà sư Phật Quang ở núi Quỳnh Viên, tại Nam Giới hay cửa Sót, giáp với Chiêm Thành. Nhà sư này chắc hẳn không phải là người Việt, vì rằng truyện Chử Đồng Tử nói “Đồng Tử linh đinh ra khắp nước ngoài (phù du xuất hải ngoại)”. Vùng núi Quỳnh Viên này có khả năng vào thời Chử Đồng Tử chưa thuộc bản đồ nước ta. Như nhà sư Phật Quang này có thể là một người Chiêm Thành, hoặc là người Ấn Độ, đang tìm cách truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Và Chử Đồng Tử là người Việt Nam đầu tiên đã tiếp xúc với ông, để rồi sau đó, trở thành người Phật tử Việt Nam đầu tiên có tên tuổi. Truyện Chử Đồng Tử này sau đó được Thiên Nam Vân Lục (2) của một tác giả vô danh chép lại.
Thế thì Chử Đồng Tử đã tiếp thu đạo Phật như thế nào? Đây là đặc điểm thứ hai mà ta cần lưu ý. Truyện Chử Đồng Tử chỉ nói khi Đồng Tử trở về quê “nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: “Mọi việc linh thông đều đã ở đây cả”. Nói vậy, Lĩnh Nam trích quái báo ta biết là truyền thống Phật giáo mà Chử Đồng Tử tiếp thu là một truyền thống Phật giáo quyền năng, đề cập đến những vấn đề linh dị và thần thông (linh thông). Truyền thống Phật giáo này như ta sẽ thấy, xuất hiện trong Mâu Tử cũng như trong Khương Tăng Hội, và tồn tại cho đến một thời truyền thống Phật giáo mới ra đời, đó là truyền thống Phật giáo Thiền của Pháp Vân. Cần nhấn mạnh Phật giáo quyền năng này cho đến thế kỷ thứ VI được bổ sung bởi truyền thống Phật giáo Thiền, nhưng không vì thế mà mất đi ảnh hưởng cơ bản của nó. Nó vẫn tồn tại như một lớp truyền thống Phật giáo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam, một lớp cơ bản để từ đó xây dựng nên những truyền thống Phật giáo mới, bổ sung cho nó qua lịch sử phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. Nhận thức điều này, ta sẽ dễ dàng hiểu được những hiện tượng đặc thù của những truyền thống khác nhau của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử. Ta sẽ đi sâu về vấn đề này dưới đây.


(1) Henri Le Breton, Le vieux An Tịnh trong Bulletin des Amis du Vieux Hue, 22(1935)2.
(2) Nhất Dạ Trạch truyện, Việt Nam Hán văn Tiểu thuyết tùng san 2. Đài Loan: Học sinh thư cục ấn hành, 1992. 202 – 204.

Chử Đồng Tử
Người Phật tử Việt Nam đầu tiên

Trước mắt, nếu Chử Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên, thì vấn đề người Phật tử đầu tiên này đã sống vào lúc nào? Truyện Nhất Dạ Trạch chỉ viết một câu hết sức mơ hồ, là: “Vua Hùng truyền đến cháu đời thứ 3” (Hùng Vương truyền chí tam thế tôn). Ta biết lịch sử nước ta, tên hiệu Hùng Vương được dùng để gọi cho nhiều đời vua thời cổ đại.

Đại Việt sử ký toàn thư ngoại kỷ I, tờ 2b9 – 5b, ghi nhận Hùng Vương là triệu đại đầu tiên của họ Hồng Bàng, và bảo: “Họ Hồng Bàng từ Kinh Dương Vương năm Nhâm Tuất thụ phong cùng với Đế Nghi cùng thời, truyền đến đời Hùng Vương cuối cùng gặp năm 257 tdl của Noãn Vương nhà Chu, là năm Quí Mão thì chấm dứt, gồm 2622 năm”. Nhưng trong phần phàm lệ, tờ 2a1 – 2, Ngô Sĩ Liên đã nhận xét: “hoặc có người nói (Hùng Vương) có 18 đời, sợ chưa phải là thế”.
Đi sâu vào vấn đề này, ta biết hiện có 3 bản ngọc phả khác nhau liên hệ đến triều đại Hùng Vương. Bản thứ nhất là một bản chép của thời Lê Hồng Đức bắt đầu từ năm 1470, rồi được chép lại vào thời Lê Kính Tôn (ở ngôi 1600 – 1618), niên đại Hoằng Định. Bản thứ hai là bản chép tay đời Khải Định được bảo là chép lại từ một bản thuộc niên đại Thiên Phúc (980 – 988) của Lê Đại Hành (ở ngôi 980 – 1005). Cả hai bản này hiện tàng trữ tại đền Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ. Bản thứ ba hiện tàng trự tại chùa Tây Thiên trên núi Tam Đảo, không có ghi ngày tháng. Vấn đề văn bản học của các ngọc phả này ta chưa cần đề cập tới ở đây. Chỉ cứ vào chúng, ta biết tối thiểu mỗi triều đại Hùng Vương có cùng mang một tên hiệu. Chẳng hạn, đời Hùng Vương cuối cùng là Hùng Duệ Vương thì ta có Duệ Vương thứ nhất, thứ hai, thứ ba, v.v… Vì thế, mười tám đời Hùng Vương trải dài trên hai ngàn năm là có thể hiểu được. Riêng đối với vấn đề quan tâm của chúng ta ở đây là cháu đời thứ ba của Hùng Vương là cháu của Hùng Vương đời nào?
Nếu Phật giáo xuất hiện vào năm 528 (hoặc 529?) tdl ở Ấn Độ và bắt đầu truyền bá qua các nước xung quanh vào những năm 247 – 232 tdl vào thời của vua A Dục khi vua này lịnh cho các phải đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái đoàn của Sona đi về vùng Đất vàng (Suvanabhumi). Vùng Đất này có phải là vùng Đông Nam Á hay không, có phải là vùng Đông Dương hay không? Đây là một vấn đề đang còn tranh cãi. Tuy nhiên cứ vào những sử liệu cổ sơ của Trung Quốc, cụ thể là Sử Ký và Tiền Hán thư cùng Hậu Hán thư cũng như các di liệu khảo cổ học, như di liệu khảo cổ học Óc Eo, thì vào những thế kỷ đầu dl, vùng biển phía nam nước ta đã rộn rịp những thương thuyền không những của các quốc gia thuộc nền văn minh Ấn Độ, mà cả những quốc gia xa xôi của nền văn minh La – mã. Cho nên, truyền bá Phật giáo vào những vùng đất này là một sự kiện chắc chắn đã xảy ra.
Hơn nữa, vùng đất miền nam nước ta từ phía nam cửa Sót trở vào đã mang nặng những vết tích của nền văn hóa Ấn Độ. Chiếc bia Võ cảnh tìm thấy tại làng Võ Cảnh ở Nha Trang, thường được các nhà nghiên cứu xác định là xuất hiện vào thế kỷ II sdl viết bằng Phạn văn. Để cho Phạn văn trở thành một ngôn ngữ được khắc trên đá vào thế kỷ ấy, nền văn minh Ấn Độ vào thời điểm ấy chủ đạo là Phật giáo, phải truyền bá tại vùng đất này qua một thơi gian tương đối dài, tối thiểu cũng phải mất một vài ba trăm năm. Nói thẳng ra, văn minh Ấn Độ phải tồn tại ở phía nam nước ta vào những thế kỷ trước và sau Dương lịch. Cho nên, vị Hùng Vương của thời Chử Đồng Tử ta cũng có thể xác định vào những thế kỷ tdl, có khả năng là Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II –III tdl.
Đoán định này của ta về niên đại của việc Chử Đồng Tử tiếp thu Phật giáo là hoàn toàn phù hợp với quan điểm của thiền sư Chân Nguyên (1647 – 1728) trong Thiên Nam Ngữ Lục (1). Sau khi kể chuyện Lữ Gia bị quân của Hán Vũ Đế đánh bại, Chân Nguyên viết:


(1) Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập III, Thiên Nam Ngữ Lục Tu thư Phật học Vạn Hạnh, 1983.
“Gia bỏ cửa mốc nhà rêu
Hang thần trật lối, hồn phiêu đường nào
Nước nên thấy những đồng dao
Cõi bờ tất đất vào chầu Hán gia
Non Sài tuyệt chẳng vào ra
Thấy còn một dấu vườn là Trúc Viên
Đìu hiu ngoài cảnh thiền thiên
Thuở trưa quyên khóc, thuở đêm hạc sầu”

Viết thế, Chân Nguyên muốn nói rằng ngôi chùa Trúc Viên đã có từ\ thời Lữ Gia, tức khoảng năm 110 tdl tại núi Thầy (Sài Sơn), ở Sơn Tây. Điều này cũng có nghĩa Phật giáo đã tồn tại ở nước ta vào thế kỷ thứ II tdl. Đây là một điểm khá lôi cuốn. Bởi vì nó cho thấy đã từ lâu lưu hành quan điểm cho rằng Phật giáo đã du nhập vào nước ta từ rất sớm. Đến thời An Thiền viết Đạo Giáo Nguyên Lưu (1) vào năm 1845, ở quyển thượng, tờ 9a11 – b5 dưới mục Đại Nam thiền học sơ khởi, ông đã kể lại truyện tích Chử Đồng Tử như đã ghi lại trong Lĩnh Nam trích quái:

(1) Lê Mạnh Thát, An Thiền thiền sư toàn tập: Đạo giáo nguyên lưu, 3 quyển. Cảo bản.

“Thời Hùng Vương, núi Quỳnh Vĩ, có Đồng Tử lên thảo am. Trong am có nhà sư tên Phật Quang. Đó là người Thiên Trúc, tuổi hơn 40, truyền pháp cho Đồng Tử một cái nón và một cây gậy, nói rằng: “Linh dị và thần không có đây cả”. Đồng Tử đem đạo Phật truyền cho Tiên Dung. Vợ chồng Tiên Dung bèn học đạo. Đến buổi chiều ngày trở về, giữa đường cần làm nơi tá túc, bèn dựng gậy che nón, đến canh ba thì thành quách lâu đài, màn gấm màn the, kim đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ đầy cả sân chầu…”.
An Thiền cũng đề ra mục Hùng Vương Phạn Tăng, tức các nhà sư Ấn Độ thời Hùng Vương, ở tờ 9b6 – 9, và kể tên nhà sư Khâu Đà La đến thành Luy Lâu của Sĩ Nhiếp vào thời cuối của Hán Linh đế (168 – 189 sdl). Xác định Khâu Đà La vào thời Hán Linh đế, dĩ nhiên không thể xếp Khâu Đà La vào loại các nhà sư vào thời Hùng Vương được.Ngoài ra, trong các loai thần tích của các xã, ta biết trong số các tướng tá của Hai Bà Trưng, sau khi bị Mã Viện đánh bại, một số đã mai danh ẩn tích trong các giáo đoàn Phật giáo. Một trong những vị này được biết tên là Bát Nàn phu nhơn đã xuất gia. Như sẽ thấy, chính những vị này cùng người kế nghiệp họ đã tập họp những văn bản kinh điển Phật giáo lưu hành lúc ấy, những bộ kinh đầu tiên hiện còn và được biết mà sau này Khương Tăng Hội đã dịch thành Hán văn dưới nhan đề Lục độ tập kinh và Cựu Tạp Thí Dụ Kinh.

Uất Kim Hương, hoa cúng Phật
Như vậy, qua lịch sử nước ta đã tồn tại và lưu hành tương đối phổ biến trong giới sử học Phật giáo Việt Nam một quan điểm cho rằng Phật giáo đã truyền vào nước ta từ thời Hùng Vương. Vấn đề bây giờ là thử xem xét quan điểm này có một giá trị hay không. Ta phải xem xét, bởi vì tất cả các sử liệu đề cập đến vấn đề này đều xuất hiện khá muộn màng, cách xa sự việc được ghi lại tới cả hàng nghìn năm, từ Thiền Uyển Tập Anh, Lĩnh Nam Trích Quái, Thiên Nam Vân Lục cho đến Thiên Nam Ngữ Lục và Đạo Giáo Nguyên Lưu, những văn bản này đều ra đời vào thế kỷ thứ XIV trở về sau. Vậy, ta có thể tìm ra những chứng cứ nào xuất hiện trong những văn bản sớm hơn, gần gủi hơn, với những sự kiện đã xảy ra hay không? Trả lời câu hỏi này, ta hiện có tối thiểu hai cứ liệu.
Thứ nhất, là một câu trích dẫn của Lý Thời Trân (1518-1593) trong Bản Thảo Cương Mục 14, tờ 69b4-5 dước mục Uất kim xuất Quyết Tân quốc, nhân chủng chi, tiên dĩ cúng Phất, sổ nhật nụy, nhiên hậu thủ chi, sắc chính hoàng, dự phù dung hoa lý nộn liên giả tương tự, khả dĩ hương tửu”. (Nam Châu dị vật chí của Dương Phùng nói: Uất kim đến từ nước Quyết Tân, người ta trồng trước để cúng Phật, vài ngày thì héo, sau đó giữ lại, màu nó vàng rộm, cùng với nhụy hoa phù dung và sen non tương tự, có thể dùng để ướp rượu).
Dương Phù, cứ Quảng châu tiên hiền chí, của Hoàng Tá (1490- 1560) và Bách việt tiên hiền chí do Âu Đại Nhiệm viết năm 1554, ghi rằng: “(Dương Phù) tên tự Hiểu Nguyên, người Nam Hải. Triều vua Chương đế tìm người tài giỏi, ông đối đáp trúng cách, nên phong làm Nghị văn. Hòa Đế tức vị, dùng nhân đánh Hung Nô. Phù tâu rằng: “Gầy dựng cơ nghiệp thì dùng võ, giữ lấy cơ nghiệp thì dùng văn, nên khi nhà Châu thắng nhà Ân thì có việc ca ngợi sự chấm dứt chiến tranh (…), vậy xin bệ hạ hãy noi theo nếp đẹp của tổ tông, đừng khinh dùng việc võ”. Năm Vĩnh nguyên thứ 12 (100 sdl) có hạn, vua gọi Phù đến triều đình bàn việc được mất của chính lịnh. (…). Lúc bấy giờ, Nam Hải thuộc Giao chỉ bộ. Thứ sử Hà Tắc đi tuần bộ của mình. Mùa đông Tắc trở về, tâu rằng: Chính quyền trung ương chọn thứ sử không đúng phép, nên họ sau đó đã tranh dành nhau tôn thờ việc người khác, dâng tặng đồ trân quí. Phù bèn lựanhững đặc tính của sự vật, chỉ cho hiểu tính khác lạ của chúng; nhằm nói rõ ra, ông viết sách Nam Duệ dị vật chí (…). Sau đó ông làm thái thú quận Lâm Hải, lại làm sách Lâm Hải thủy thổ ký. Người đời phục ông cao thức và không khinh thường sự dạy dỗ.”
Bản tiểu sử vừa được dịch là lấy từ Bách việt tiên hiền chí, quyển 2, tờ 5b9-6b10. Nhưng tất cả các cuốn sử về nhà Hậu Hán như Hậu Hán ký của Viên Hoằng (328-376) và Hậu Hán thư của Phạm Việp (398-445) đều không thấy nhắc tới tên Dương Phù. Chỉ đến Lệ Đạo Nguyên viết Thủy kinh chú trước năm 529, quyển 36 tờ 30a6 và quyển 37 tờ 6a8 mới dẫn một Dương thị Nam duệ dị vật chí. Rồi đến Tuỳ thư kinh tịch chí 33 tờ 133a4-5 mới ghi tên “Dương Phù soạn Giao Châu dị vật chí một quyển” và “Hán nghị lang Dương Phù soạn Dị vật chí một quyển”. Sau đó, Nghệ văn loại tụ do Au Dương Tuần soạn năm 624, quyển 84 và quyển 95 và Sơ học ký do Từ Kiên chủ biên năm 659, quyển 9, cũng như Thái bình ngự lãm quyển 395, quyển 890, v.v… do Lý Phưởng (926-996) biên soạn, mới bắt đầu trích dẫn Nam Châu dị vật chí hay Nam Duệ dị vật chí và Giao châu dị vật chí. Như vậy Nam Châu, Nam Duệ hoặc Giao Châu đều chỉ chung cho một vùng đất thuộc miền bắc nước ta hiện nay. Vì thế, nếu Nam Châu dị vật chí của Dương Phù bảo rằng “người ta” trồng Uất kim hương để cúng Phật, thì “người ta” đây chính là người nước ta. Đây là chứng cớ đầu tiên, xuất hiện tương đối sớm nhất, tức khoảng năm 100 sdl, xác nhận có một bộ phận người Việt đã theo Phật giáo, đã biết trồng hoa Uất kim hương để cúng Phật.


Qua phần trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng nhận định của ông Lê Mạnh Thát khác với nhận định của người viết trong sách này cho rằng “ngài Chử Đồng Tử người sáng lập Đạo giáo của nền văn minh Lạc Việt”. Còn ông Lê Mạnh Thát cho rằng Chử Đồng Tử là người Phật tử đầu tiên ở Việt Nam. Đây là điều mà bản văn của Lĩnh Nam trích quái đã ghi nhận. Vấn đề còn lại – theo nhận định của ông Lê Mạnh Thát – chỉ là sự chứng minh tính thực tế của bản văn đó. Về việc này, thì những luận cứ của ông Lê Mạnh Thát đều là những chứng cứ gián tiếp, không có sự liên hệ chặt chẽ với vấn đề đặt ra. Điều này được thể hiện qua những hiện tượng qua phần trích dẫn trên của chính ông, như sau:
@ Về núi Quỳnh Viên:
Ông cho rằng núi Quỳnh Viên ở vùng biển trước cửa Sót của Việt Nam giáp giới Thanh Hoá – Nghệ An. Nhưng chính trong bản văn của truyện đã nói rõ Chử Đồng Tử lênh đênh hải ngoại thì không thể đi đến cửa Sót đã gặp ngay núi Quỳnh Viên. 

Do đó, chỉ có thể núi Quỳnh Viên là một địa danh thần thoại; hoặc là phải ở rất xa bờ biển Việt Nam, chứ không thể ở ngay cửa Sót được. Hơn nữa, Quỳnh Viên nghĩa đen là vườn Quỳnh, một địa danh dễ liên hệ tới Quỳnh Dao là nơi ở của bà Tây Vương Mẫu, hơn là một địa danh có thật. Vả lại, câu “Danh sơn do tích cổ Quỳnh viên” chưa trực tiếp khẳng định hòn núi này có tên là Quỳnh viên trước khi ngài Chử Đồng Tử đến tu tập. Cho dù, trên thực tế từ thời Lê Thánh Tôn – sau thời điểm ngài Chử Đồng Tử thành đạo ngót 2000 năm – hoặc trước đó đã có núi Quỳnh Viên và có một am nhỏ trên đó, thì điều đó cũng khó có thể liên hệ với một hiện tượng đã xảy ra trước đó gần hai ngàn năm. Bởi vì, nếu giả thiết Chử Đồng Tử đã từng tu ở đây thật và phổ biến Phật giáo vào thời của ngài như một hiện tượng xã hội lớn, đến mức độ vua Hùng phải quan tâm đến. Như vậy, sẽ dẫn tới sự liên hệ tiếp tục với những vấn đề sau đây:

* Ngôi chùa (hoặc am) trên núi Quỳnh Viên có thật đó sẽ là di tích đầu tiên của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nhưng, không thể ngôi chùa đầu tiên tu hành của vị đứng đầu Phật giáo Việt Nam là Chử Đồng Tử – đồng thời là một danh nhân của dân Lạc Việt: Ngài là một trong bốn vị thần bất tử trong tín ngưỡng dân gian – mãi mãi chỉ là một cái am nhỏ trải hàng ngàn năm sau đó, mà không được chú ý đến. Trong khi Phật giáo là một tôn giáo lớn được hầu hết người Việt tôn trọng, dù theo hay không theo tôn giáo này. Hơn nữa, câu trên cũng có thể hiểu rằng: bắt đầu tự sự tích núi Quỳnh Viên mà đời sau lấy tên đó đặt cho hòn núi này. Hay nói một cách khác: địa danh núi Quỳnh Viên có sau sự tích này. Do đó, chỉ có thể nhận xét một cách hợp lý rằng: người đời sau đã sử dụng một hiện tượng thực tế để minh chứng cho một truyền thuyết. Cũng như đầm Nhất Dạ ở Hải Dương, được coi là di tích của ngài Chử Đồng Tử. Nhưng chưa chắc hẳn đã là nơi ngài Chử Đồng Tử qui tiên ở đấy. Tức là, không phải ngài Chử Đồng Tử đã hoá phép để biến một vùng đất thành một cái hồ ở Hải Dương bây giờ là một thực tế. Chỉ có thể coi đây là một hiện tượng thực tế được sử dụng để bảo chứng cho sự tồn tại của một truyền thuyết.
@ Về hiện tượng hoa Uất kim cương
Chính theo bản văn mà ông Lê Mạnh Thác dẫn chứng thì việc sử dụng hoa Uất kim cương cúng Phật được Dương Phù ghi nhận vào thời điểm khoảng đầu thế kỷ thứ II sau CN (120 s CN). Tức là sau thời điểm Văn Lang mất nước hơn 300 theo quan niệm mới; và gần 400 theo sử cũ. Chưa nói đến vấn đề theo đúng truyền thuyết thì sự xuất hiện của ngài Chử Đồng Tử vào đầu thời Hùng Vương thứ 18 – tức là khoảng 400 tr.CN theo Hùng triều Ngọc phả – thì khoảng cách này là hơn nửa thiên niên kỷ. Đây cũng chỉ là một chứng cứ gián tiếp không có sự liên hệ gần gũi.
@ Về thời điểm Phật giáo truyền vào Việt Nam
Chính trong đoạn trích dẫn trên đã nói rõ rằng:

“…vào những năm 247 – 232 tdl vào thời của vua A Dục, khi vua này lệnh cho các phái đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái đoàn của Sona đi về vùng Đất vàng (Suvanabhumi). Vùng đất vàng này có phải là vùng Đông Nam Á không, có phải vùng Đông Dương không? Đây là một vấn đề còn đang tranh cãi…”

Người viết đặt một giả thiết thuận lợi nhất cho nhận định của ông Lê Mạnh Thát là vùng đất vàng chính là Việt Nam. Và giả thiết thuận lợi nhất cho niên đại chấm dứt thời đại Hùng Vương – theo quan điểm mới – là 208 tr.CN thì nó chỉ cách thời điểm xa nhất của việc truyền bá đạo Phật của tăng đoàn Sonna là 39 năm, gần nhất là 24 năm. Với những điều kiện trên và cho rằng ngài Chử Đồng Tử đã tiếp xúc ngay được với giáo lý của Phật vào thời điểm này ( thuận lợi nhất là 39 năm trước khi kết thúc thời đại Hùng Vương) thì:
Theo như truyền thuyết thì ngài Chử Đồng Tử đã tạo được một khối lượng tín đồ đông đảo và đứng đầu giáo hội này trở thành một hiện tượng xã hội, khiến vua Hùng phải quan tâm tới. Nhưng chính tư liệu của ông Lê Mạnh Thác lại chứng tỏ: “bấy giờ Tôn Quyền xưng đế Giang Tả (năm 222 sdl) mà Phật giáo chưa lưu hành”. Điều này một sự phủ định gián tiếp cho nhận định của ông Lê Mạnh Thác. Bởi vì:
Nếu Phật giáo được truyền vào Việt Nam qua ngài Chử Đồng Tử vào thời điểm cuối cùng của thời Hùng Vương (208 tr.CN theo quan điểm lịch sử mới, tức là điều kiện thuận lợi nhất cho nhận định trên), kéo dài đến 400 năm sau đó đến thời Tôn Quyền nhà Ngô (tức Giang Đông); không lẽ Phật giáo không thể phát triển trong vòng 400 năm đó, trong phạm vi một quốc gia và sau này là chính Giang Đông? Hay nói một cách khác: không lẽ trong vòng 400 năm không có sự giao lưu văn hoá trong một quốc gia; để rồi đến đời Đường, Phật giáo lại từ Trung Quốc qua chính vùng Giang Đông trở lại vào Giao Châu? Do đó, sự không phổ biến của Phật giáo ở Giang Đông vào thời điểm 200 năm sau CN, đã chứng minh sự mâu thuẫn trong nhận định của ông Lê Mạnh Thác.
Chưa nói đến việc theo quan điểm lịch sử cũ thì thời Hùng Vương kết thúc vào năm 257 tr.CN; tức là trước khi phái đoàn của Sona xuất hành truyền bá đạo Phật 8 năm và vấn đề Đất Vàng có phải là Việt Nam không. Bởi vậy, có thể khẳng định rằng: Phật giáo chưa thể truyền vào Việt Nam vào thời điểm ngài Chử Đồng Tử hành đạo. Còn một vấn đề đặc biệt quan trọng nữa là: Thời điểm hành đạo của ngài Chử Đồng tử vào đầu thời Hùng Vương thứ 18. Nếu theo quan niệm mới thì đó là một đời vua và ngài Chử Đồng Tử chỉ hành đạo vào khoảng 230 năm tr.CN. Nhưng với quan niệm cho rằng thời Hùng Vương tồn tại 2622 năm và căn cứ vào Hùng triều Ngọc phả ( trong sách đã dẫn, ông Lê Manh Thác cũng nói đến điều này và không phản bác) thì đầu thời Hùng Vương thứ 18 sẽ vào thời điểm từ năm 408 tr.CN. Lúc này Phật giáo chưa thể truyền vào Việt Nam. Vấn đề này sẽ được trình bầy ngay sau đây.

@ Thời điểm hành đạo của ngài Chử Đồng Tử
Với cách nói và cái nhìn quen thuộc về 18 “đời” Hùng Vương. Đã dẫn đến cái nhìn cho là thời Hùng Vương chỉ có 18 vị vua. Và đời Hùng Vương thứ 18 chỉ là một vị, đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn không thể lý giải. Một trong những mâu thuẫn khó hiểu nhất chính là việc chia 2622 năm tồn tại của thời Hùng Vương cho 18 vị vua (theo quan niệm mới) ra con số khoảng gần 150 năm cho tuổi thọ của một con người và khẳng định tính phi lý về niên đại gần 3000 văn hiến Văn Lang. Bởi vì, truyền thuyết Con Rồng – Cháu Tiên mang nội dung huyền thoại: Rồng lấy Tiên, đẻ ra một trăm trứng nở thành 100 người con … Do đó, con số 18 cũng chỉ mang tính biểu tượng. Cho nên không thể lấy một đại lượng cụ thể (2622 năm được ghi trong chính sử cũ) chia cho một đại lượng trừu tượng. Đây là một sai lầm sơ đẳng về toán học. Nó giống như việc lấy tri thức trong một cuốn sách chia cho số học sinh, để tìm xem trung bình một học sinh tiếp thu được bao nhiêu phần của cuốn sách.
Nếu không căn cứ vào Hùng triều Ngọc phả, thì ngay truyền thuyết thời Hùng Vương cũng đủ chứng tỏ “18 đời Hùng Vương” mà truyền thuyết nói tới không thể là 18 vị vua, bởi vì:
Vào thời Hùng Vương thứ 18 có đến 3 truyền thuyết mà nội dung không liên quan đến nhau. Đó là: truyền thuyết về ngài Chử Đồng Tử, vào đầu thời Hùng Vương thứ 18; truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, vào cuối thời Hùng Vương thứ 18; truyền thuyết về ngài Tản viên Sơn Thánh cũng vào cuối thời Hùng Vương thứ 18. Trong đó: Truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh khẳng định vua Hùng cuối đời thứ 18 chỉ có một người con gái duy nhất là Mỵ Nương. Với truyền thuyết Đầm Nhất Dạ – vào đầu thời Hùng Vương thứ 18 – lại có công chúa Tiên Dung? Rồi truyền thuyết về ngài Tản Viên Sơn Thánh, cũng cuối đời Hùng Vương thứ 18 lại có công chúa Ngọc Hoa. Để giải quyết mâu thuẫn này, với quan điểm mới chỉ còn cách ghép hai vị công chúa này thành hai chị em ruột và bắt buộc phải sửa lại truyền thuyết Sơn tinh – Thủy tinh là “Vua Hùng thứ 18 có hai công chúa, một người gả cho Chử Đồng Tử, còn lại chỉ có một người là Mỵ Nương, tên là Ngọc Hoa”; cuối cùng là ghép ngài Tản Viên Sơn Thánh – Nguyễn Tuấn – chính là Sơn Tinh? Sự gán ghép này tất nhiên là rất phi lý! Trước hết là nội dung các truyền thuyết này không liên quan đến nhau.
Nội dung trực tiếp của truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh đầy màu sắc huyền thoại trong suốt nội dung của nó. Sự liên hệ duy nhất với các truyền thuyết khác chỉ có ở câu mở đầu: “Vào cuối đời Hùng Vương thứ 18”.Nội dung trực tiếp của “Sự tích Đầm Nhất Dạ” cũng mang màu sắc huyền thoại về một con người là ngài Chử Đồng Tử. Sự liên hệ duy nhất với 3 truyền thuyết cùng thời là câu: “Vào đầu đời Hùng Vương thứ 18”.Nội dung trực tiếp của truyền thuyết về ngài Tản Viên Sơn Thánh cũng mang ít nhiều màu sắc huyền thoại về một con người. Sự liên hệ với các truyền thuyết khác là “Vào cuối đời Hùng Vương thứ 18” và cũng là con rể vua Hùng. Đây là một truyền thuyết lịch sử về một danh nhân được khẳng định tính thực tế tồn tại vào cuối thời Hùng Vương thứ 18, mặc dù có chất huyền thoại về con người được xưng tụng.
Do đó, khi ghép ngài Tản Viên được khẳng định sự tồn tại trên thực tế theo nội dung truyền thuyết với nhân vật Sơn Tinh huyền thoại mang tính hư cấu hoàn toàn sẽ mang tính khiên cưỡng, phi lý hoàn toàn. Bởi vì nội dung hai truyền thuyết này không hề liên quan với hau. Như vậy, sự phân tích với tính hợp lý nhất – tính hợp lý là một ếu tố cần của một giả thuyết nhân danh khoa học – phải là sự khẳng ịnh tính độc lập giữa hai truyền thuyết này. Hệ quả của tính hợp lý iếp theo là: Khi giữa ngài Tản Viên Sơn Thánh với hình tượng Sơn inh không liên quan đến nhau thì sẽ phải khẳng định rằng: truyền huyết này nhằm chuyển tải một nội dung lịch sử khác (sẽ được trình bày ở chương VIII trong sách này). Khi khẳng định tính độc lập của truyền thuyết này thì sự hợp lý tiếp theo là truyền thuyết “Đầm Nhất Dạ” cũng độc lập với nội dung của nó. Tức là: Đầu thời Hùng Vương thứ 18 của “Sự tích đầm Nhất Dạ” và cuối đời Hùng Vương thứ 18 của truyền thuyết ngài Tản Viên Sơn Thánh và Sơn tinh – Thuỷ tinh, không thể là khoảng thời gian của một vị vua. Hay nói một cách khác: đầu thời Hùng Vương thứ 18 với công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử; cuối thời Hùng Vương thứ 18 với công chúa Ngọc Hoa và ngài Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn ít nhất là hai đời vua trong thời Hùng Vương thứ 18. Như vậy tính chặt chẽ nhất của lập luận tiếp theo sẽ là phải coi cái nhìn quen thuộc về cụm từ “18 đời Hùng Vương” là sự sailệch; mà phải là “18 thời Hùng Vương”. Như vậy, việc tồn tại 2622 năm mà cổ sử Đại Việt nhắc tới hoàn toàn có cơ sở. Còn nếu như coi các truyền thuyết về thời Hùng Vương là mơ hồ, thì có thể khẳng định rằng: sẽ không thể có một lập luận nào, nhân danh bất cứ một giá trị tri thức nào của nhân loại – từ tri thức siêu hình nhất cho đến tri thức khoa học nhất – được toàn thể nhân loại tích luỹ trong quá trình lịch sử của loài người, giải thích được hiện tượng ăn trầu phổ biến hàng ngàn năm ở miền nam sông Dương Tử, cho đến tận ngày nay ở Đài Loan và ở Việt nam, cũng như sự hiện diện của chiếc bánh chưng, bánh dầy trong truyền thống văn hoá của người Việt còn đến tận bây giờ.
Hơn nữa và cũng là điều quan trọng là: sự xuất hiện với danh xưng “sư Phật Quang” trong truyền thuyết “Đầm Nhất Dạ” ở “Lĩnh Nam chích quái” chỉ là một hiện tượng không có sự liên hệ nhất quán và hợp lý trong toàn bộ nội dung câu truyện. Bạn đọc có thể nhận thấy điều này trong suốt cuộc đời hành đạo của ngài Chử Đồng Tử. Ngài hoàn toàn sử dụng thần thông để tác động vào cuộc đời. Hay nói một cách khác – theo ngôn ngữ Phật giáo – là Ngài vẫn tác nghiệp dưới một hình thức khác và việc này không phải là mục đích tu tập theo giáo lý Phật là không tác nghiệp dưới bất cứ hình thức nào, để tránh nghiệp quả và đạt đến sự giải thoát hoàn toàn. Hình tượng thể hiện rõ nét nhất chính là khi đắc đạo, ngài đã tạo dựng vương quốc riêng với lối sống của bậc đế vương nơi trần thế. Bạn đọc xem lại đoạn trích dẫn sau đây, trong truyền thuyết Đầm Nhất Dạ thể hiện điều này:


“Trên đường viễn hành, trời tối mà chưa thấy thôn xá, hai người tạm nghỉ giữa đường, cắm trượng, che nón mà trú thân. Đến canh ba thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài dinh thự, phủ kho miếu xã, vàng bạc châu báu, giường chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ la liệt trước mắt. Sáng hôm sau ai trông cũng kinh lạ, đem hương hoa, thức ăn quí tới mà xin làm bầy tôi. Có văn võ bá quan chia quân túc vệ lập thành nước riêng.”

Cho dù đây chỉ là hình ảnh biểu tượng phản ánh một vương quốc tâm linh của một tín ngưỡng được tạo dựng trong nền văn minh Lạc Việt, thì đó cũng không phải là lối sống và sự tu tập theo Phật pháp. Điều này chứng tỏ rằng ngài Chử Đồng Tử là một chân nhân – đẳng cấp cao nhất của sự tu tập theo Đạo giáo – chứ không phải là một Phật tử theo đạo Phật; đồng thời cũng chứng tỏ rằng ngài là người đã sáng lập ra Đạo giáo thuộc về nền văn minh Lạc Việt. Điều này đã giải thích vì sao ngài là một trong bốn vị thần bất tử hộ quốc của người Lạc Việt.
Từ những tiền đề phân tích ở trên về tính hợp lý và sự chặt chẽ trong cấu trúc của hệ thống truyền thuyết và huyền thoại thời Hùng Vương – ngoài việc chứng minh một trí tuệ siêu đẳng của tổ tiên người Lạc Việt – còn chứng tỏ thời điểm hành đạo của ngài Chử Đồng Tử vào đầu thời Hùng Vương thứ 18 tức là khoảng 400 năm trước CN. Tất nhiên, vào thời điểm này Phật giáo mới vào giai đoạn kiết tập để hoàn chỉnh kinh sách qua những lời giảng của Đức Thích Ca, chưa thể truyền đến Việt Nam. Do đó, tôn giáo mà ngài Chử Đồng Tử sáng lập không thể là Phật giáo, mà chính là Đạo giáo như đã trình bày ở trên.
Những lập luận trong sách này, nhằm chứng tỏ ngài Chử Đồng Tử là người sáng lập Đạo giáo của nền văn minh Lạc Việt, không phủ nhận việc Phật giáo du nhập vào nền văn minh này vào cuối thời Hùng Vương thứ 18, trên cơ sở thời Hùng Vương thứ 18 kéo dài gần 400 năm.

Nguyễn Vũ Tuấn Anh


TỪ CỬA SÓT VỚI CHỬ ĐỒNG TỬ - TIÊN DUNG ĐẾN NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO VIỆT NAM .

Trong phần này , dienbatn chỉ tổng hợp lại những ý kiến của các tác giả đã nêu ở phần trên và có những suy luận riêng của mình . Không dám cho là đúng , chỉ mong sao tìm lại những gì của ông cha từ ngàn xưa . Xin Tổ tiên anh linh chứng dám .

Phần này , những đoạn trích của Thiền sư Lê mạnh Thát có màu nâu , của Nguyễn Vũ Tuấn Anh có màu tím , nhận xét riêng của dienbatn có màu xanh quen thuộc vẫn hay dùng , những đề mục quan trọng có màu đỏ . 



A / VỀ TRUYỀN THUYẾT CHỬ ĐỒNG TỬ - TIÊN DUNG .

1/Truyện Nhất Dạ trạch : ( Lĩnh Nam chích quái ).

Hùng Vương truyền tới đời thứ III (Truyền thuyết Hùng Vương – thần thoại Vĩnh Phú, sách đã dẫn và truyền thuyết còn lưu truyền trong dân gian nói: Vào đời Hùng Vương thứ XVIII) thì hạ sinh được con gái tên là Tiên Dung – Mỵ Nương đến tuổi 18 dung mạo đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, chỉ mải vui chơi chu du khắp thiên hạ. Vua cũng không cấm. Mỗi năm vào khoảng tháng hai, tháng ba lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài bể vui quên trở về.
Hồi đó, ở làng Chử Xá cạnh sông lớn có người dân tên là Chử Vi Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử (có nghĩa là người con trai ở bến sông), cha từ con hiếu. Nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, còn một khố vải cha con ra vào thay nhau mà mặc. Kịp tới lúc cha già ốm, bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con”. Con không nỡ làm theo, dùng khố mà liệm bố.
Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông, hễ nhìn thấy thuyền buôn qua lại thì đứng dưới nước mà ăn xin, rồi lại câu cá độ thân. Không ngờ thuyền Tiên Dung tới, chiêng trống đàn sáo, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ.
Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây. Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống mà phủ cát lên mình. Thoắt sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh vây màn trướng ở khóm lau mà tắm. Tiên Dung vào màn cởi áo dội nước, cát trôi mất, trông thấy Đồng Tử. Tiên Dung kinh sợ hồi lâu, thấy con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp người này, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là trời xui nên vậy. Người hãy đứng dậy tắm rửa, ta ban cho quần áo mặc rồi cùng ta xuống thuyền mở tiệc ăn mừng”. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử nói là tại sao mà lại nấp ở đấy. Tiên Dung ta thán rồi ép làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ, Tiên Dung nói: “Đây là do trời chắp nối, sao cứ chối từ?”.
Người theo hầu vội về tâu lại với vua. Hùng Vương nói: “Tiên Dung không thiết danh tiết, không màng của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ bần nhân, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa”.
Tiên Dung nghe thấy, sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở bến chợ, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành cái chợ lớn (nay là chợ Thám, còn gọi là chợ Hà Lương). Phú thương ngoại quốc tới buôn bán, thờ Tiên Dung, Đồng Tử làm chúa. Có người lái buôn giàu nói rằng: “Quí nhân bỏ một dật vàng ra ngoài biển mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do trời phú cho, hãy đem vàng cùng phú thương ra hải ngoại buôn bán”.
Có núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé thuyền ở đó lấy nước ngọt. Đồng Tử lên am chơi, có tiểu tăng tên gọi là Ngưỡng Quang truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử lưu học ở đó, giao hàng cho lái buôn mua hàng. Sau lái buôn quay lại am chở Đồng Tử về. Sư tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón (Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam thì là “cây gậy và chiếc nón” - người viết.) mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.
Đồng Tử trở về, giảng lại đạo Phật, Tiên Dung giác ngộ, bỏ phố phường, cơ nghiệp, rồi cả hai tìm thầy học đạo. Trên đường viễn hành, trời tối mà chưa thấy thôn xá, hai người tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng, che nón mà trú thân. Đến canh ba thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài dinh thự, phủ kho miếu xã, vàng bạc châu báu, giường chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ la liệt trước mắt. Sáng hôm sau ai trông cũng kinh lạ, đem hương hoa, thức ăn quý tới mà xin làm bầy tôi. Có văn võ bá quan chia túc quân vệ, lập thành nước riêng.
Hùng Vương nghe tin cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần xin đem quân ra phân nhau chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sinh tử tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin nhận theo lẽ chính, mặc cho đao kiếm chém giết”.
Lúc đó dân mới đến đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại. Quan quân tới, đóng trại ở châu Tự Nhiên, còn cách sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân.
Nửa đêm gió thổi bay cát nhổ cây, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay tản lên trời, chỗ đất đó tuột xuống thành cái chằm lớn. Dân bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi chằm là chằm Nhất Dạ Trạch (nghĩa là chằm một đêm), gọi bãi là bãi Mạn Trù (bãi Màn Trướng), gọi chợ là chợ Thám còn gọi là chợ Hà Lương.
Sau vua Hậu Lương là Diễn sai Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược phương Nam. Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục sai quân nấp ở chằm. Chằm sâu mà rộng, lầy lội, tiến binh rất khó, Quang Phục dùng thuyền độc mộc đột xuất ra đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa đây là chằm một đêm bay về trời, nay lại là chằm một đêm cướp một người”.
Nhân gặp loạn Hầu Cảnh vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, ủy cho tùy tướng là Dương Sằn thống lĩnh sĩ tốt. Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương mà cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đàn mà bảo Quang Phục rằng: “Hiển linh còn đó, người có thể cầu tới cứu trợ để dẹp bằng họa loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu có thể khiến giặc bị diệt”. Đoạn bay lên trời mà đi.
Quang Phục được vật đó, reo mừng vang động, xông ra đột chiến, quân Lương thua to. Chém Dương Sằn trước trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn tự lập làm Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh. (Có chỗ viết là Châu Quỳnh Viên Sơn tức Kim Mộc Sơn ở cửa Nam Giới, huyện Thạch Hà).





2/“Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán kính thờ Tiên Dung (và) Đồng Tử làm chúa. Có một khách buôn lớn đến bảo Tiên Dung rằng: “Quí nhân hãy bỏ ra một dật vàng năm nay cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí, đến sang năm được lãi mười dật”. Tiên Dung vui mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng ta là bởi Trời mà nên. Nhưng cái ăn cái mặc là do người làm lấy. Nay nên đem một dật vàng cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí để sinh sống”. Đồng Tử bèn cùng thương nhân đi buôn bán lênh đênh ra khắp nước ngoài. Có núi Quỳnh Viên trên núi có am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước. Đồng Tử lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu Tăng tên Phật Quang truyền pháp cho Đồng Tử. Đồng Tử ở lại để nghe pháp, đưa vàng cho thương nhân đi mua hàng. Đến lúc thương nhân trở về lại tới am đó chở Đồng Tử trở về nhà. Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: “Các việc linh thông đều ở đó rồi”. Đồng Tử trở về, đem đạo Phật nói hết với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ nghề buôn để cùng Đồng Tử du phương tìm thầy học đạo”.

3/“Thời Hùng Vương, núi Quỳnh Vĩ, có Đồng Tử lên thảo am. Trong am có nhà sư tên Phật Quang. Đó là người Thiên Trúc, tuổi hơn 40, truyền pháp cho Đồng Tử một cái nón và một cây gậy, nói rằng: “Linh dị và thần không có đây cả”. Đồng Tử đem đạo Phật truyền cho Tiên Dung. Vợ chồng Tiên Dung bèn học đạo. Đến buổi chiều ngày trở về, giữa đường cần làm nơi tá túc, bèn dựng gậy che nón, đến canh ba thì thành quách lâu đài, màn gấm màn the, kim đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ đầy cả sân chầu…”.

3/Chử Đồng Tử

Vũ Ngọc Phan kể


Thời xưa, ở làng Chử Xá (1), có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nhà nghèo đến nỗi phải chung nhau một cái khố, hễ ai đi đâu thì đóng. 

Cù Vân bị ốm nặng, khi sắp chết, dặn lại con rằng: 

- Bố chết, con cứ táng trần cho bố, còn cái khố con giữ lấy mà dùng. 

Cù Vân chết, Chử Đồng Tử không nỡ để cha trần truồng, lấy khố đóng cho cha, rồi mới chôn. 

Ở một túp lều nhỏ ven sông, ngày ngày Chử Đồng Tử xuống đánh cá, rồi đổi lấy gạo ở các thuyền qua lại. 

Thời bấy giờ vua Hùng Vương thứ mười tám có một nàng công chúa tên là Tiên Dung, nhan sắc tuyệt trần, tuổi đã mười bảy mười tám mà không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Vua chiều con, cấp cho con thuyền và đủ mọi người hầu hạ, mặc cho con muốn đi chơi đâu thì đi. 

Một hôm, Tiên Dung đi chơi thuyền trên sông, thuyền của Tiên Dung đi giữa, còn trước sau là thuyền của binh lính và thị nữ. Khi đến khúc sông thuộc làng Chử Xá, đám thuyền làm rợp cả mặt nước. 

Chử Đồng Tử trông thấy, vội vứt vó vào bụi, chạy lên bãi, bới cát vùi mình xuống, rồi lấy cát phủ lên. 

Thấy bãi sông rộng rãi, lại có lác đác từng bụi cây lớn tỏa bóng mát êm dịu, Tiên Dung lấy làm ưa thích, ra lệnh cho thuyền ghé vào bãi, rồi chọn một chỗ có bóng mát, sai thị nữ giăng màn tứ vi để tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo xiêm, dội thỏa thích. Không ngờ chỗ Tiên Dung giăng màn tắm lại chính là chỗ Chử Đồng Tử náu mình. Tiên Dung dội nước một lúc thì bỗng nhiên Chử Đồng Tử trồi lên. Tiên Dung trông thấy giật mình, hỏi duyên cớ thì Đồng Tử nói vì không có quần áo thấy thuyền quân quan thì sợ, nên phải vùi mình xuống cát để ẩn. 

Tiên Dung bảo Đồng Tử rằng: 

- Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run rủi, lại gặp chàng ở chốn này, mới biết cưỡng không được với trời. 

Nàng bảo Đồng Tử tắm sạch sẽ, lấy quần áo cho mặc, đưa xuống thuyền và sai thị nữ sửa soạn tiệc hoa. Thấy thế, Chử Đồng Tử ngỏ ý chối từ, Tiên Dung bảo chàng rằng: 

- Thiếp với chàng là tự trời xe duyên, việc gì mà từ chối! 

Đồng Tử đành phải nghe theo. 

Từ hôm ấy, hai người thành vợ chồng. 

Vua được tin nổi giận, gọi hết binh lính và người hầu của Tiên Dung về. Tiên Dung sợ cha, đành cùng chồng ở lại với nhân dân, tìm kế sinh nhai. Nàng làm ăn ngày một thịnh vượng, dần dần lập thành một xóm. Sau có người khuyên nàng cho người ra biển tìm những vật lạ đem về đổi lấy các thứ khác. Nàng nghe theo, để chồng đi. 

Đồng Tử đi qua một nơi phong cảnh tuyệt đẹp, trông lên núi thấy có cái am nhỏ. Đồng Tử trèo lên núi gặp một nhà sư xưng tên là Phật Quang. Thấy Đồng Tử là người chân thật, Phật Quang muốn truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử không nghĩ đến việc ra biển nữa, liền ở luôn đó. Đồng Tử học được hơn một năm thì Phật Quang cho chàng một cái gậy và một cái nón, cho phép chàng xuống núi và dặn rằng:

- Phép biến hóa ở cả cái gậy và cái nón này. 

Đồng Tử về nhà, đem phép mầu truyền lại cho Tiên Dung, rồi hai vợ chồng rời bỏ xóm làng, đi tìm nơi thanh vắng để ở. Một hôm đang đi đường, trời tối mà chưa đến chỗ dân cư, hai vợ chồng chống cái gậy xuống đất và lấy cái nón úp lên đầu gậy để che sương, rồi hai người ngồi tựa vào nhau dưới nón mà ngủ. Đến quá nửa đêm, hai vợ chồng tỉnh dậy thì thấy mình ở trong một cung điện lộng lẫy có đủ các thứ giường sập, màn trướng, lại có cả tiểu đồng, thị nữ và binh lính đi lại rộn rịp ngoài hành lang. 

Sáng hôm sau, hai vợ chồng ra ngoài xem thì thấy có thành cao bao bọc cung điện và có tướng sĩ canh gác rất đông, chẳng khác nào một tòa thành lớn. 

Tin lạ ấy đến tai vua. Vua cho là Đồng Tử và Tiên Dung làm loạn, liền sai quan quân đến đánh. Quân nhà vua đến gần nơi Tiên Dung và Đồng Tử ở thì trời vừa tối, không sang sông được. Đến nửa đêm, trời nổi cơn dông, cát bay, cây đổ, rồi toàn khu Đồng Tử và Tiên Dung ở bay cả lên trời, chỉ còn lại bãi đất không ở giữa đầm. Bãi ấy về sau gọi là bãi Tự nhiên (2), còn đầm ấy gọi là đầm Nhất Dạ (3). Thấy có sự lạ lùng như vậy, nhân dân lập miếu thờ ngay trên bãi. 

Đời sau, Triệu Việt Vương đóng quân trong đầm để chống lại quân xâm lược nhà Lương. Lúc bị quân giặc vây nguy cấp, Triệu Việt Vương thiết đàn, cầu thần giúp mình tiêu diệt quân địch để cứu nạn nước, bỗng thấy một vị thần cưỡi rồng xuống đàn cho Triệu Việt Vương một cái vuốt rồng và dặn: "Ngươi cắm cái vuốt này lên chỏm mũ đầu mâu thì đi đến đâu, giặc sẽ tan đến đấy". Nói xong, thần cưỡi rồng bay vụt lên trời. 

Theo lời thần dạy, Triệu Việt Vương cắm vuốt rồng lên chỏm mũ, thấy sức khỏe tăng lên bội phần, trí óc cũng sáng suốt, thanh thế ngày một lớn, mới đem quân phá vòng vây, chém được tướng giặc là Dương Sàn. Quân xâm lược nhà Lương bị tan vỡ, phải rút khỏi đất nước Việt Nam . 
Vũ Ngọc Phan kể 

4/Trên bờ ao có hai nên nhà . Tục truyền vào thời Hùng Vương , Chử Đồng Tử và Tiên Dung tu Đạo ở đấy , gọi là núi Quỳnh Viên . Lê Thánh Tông Hoàng Đế đi tuần du phương Nam có câu thơ :

" Danh Sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên " ( Kể về núi danh tiếng , còn nói đến núi Quỳnh Viên xưa " .

…Về phía Nam vài dặm có suối Hau Hau , nước rất ngon ngọt . Trong những tháng mùa hè , dân quanh vùng ghé thuyền vào chân núi bắc máng tre dẫn nước vào thuyền chở đi bán . Những người quanh vùng đều lấy làm quý .

Như vậy ta thấy rằng tuy có nhiều dị bản nhưng việc Chử Đồng Tử và Tiên dung được nhà sư Phật Quang truyền Đạo ( Ta chưa bàn đến Đạo gì ) là có sự thống nhất giữa các tài liệu . Việc nữa là tại Cửa Sót và núi Nam Giới vẫn còn di tích và truyền thuyết từ xưa về việc này . Thứ hai là núi Nam Giới chính là nơi biên ải ngày xưa của nước Việt (Cửa Sót ( Nam Giới) , tại nơi giáp giới hai Huyện Thiên Lộc và Thạch Hà , nước sông Hà Hoàng chảy ra . Nguồn sông gần và nông , nước triều mặn dâng ngược rất xa . Cửa biển sâu rộng . Ngày trước các thuyền buôn của người Tàu sang ta đều vào cửa ấy .) Nơi đây chính là một cửa khẩu quan trọng của nước ta vào thủa ấy để thông thương với bên ngoài , và rất có thể là nơi Phật giáo Ấn Độ được truyền vào nhờ nhà sư Phật Quang . Thứ 3 các dị bản đều nhắc đến việc thuyền buôn của Chử Đồng Tử vào núi Nam Giới lấy nước , chi tiết này có thật trong sử (Về phía Nam vài dặm có suối Hau Hau , nước rất ngon ngọt . Trong những tháng mùa hè , dân quanh vùng ghé thuyền vào chân núi bắc máng tre dẫn nước vào thuyền chở đi bán . Những người quanh vùng đều lấy làm quý .) Đây cũng là một bằng chứng quan trọng vì những ngọn núi ngoài biển không phải nơi đâu cũng có sẵn nước ngọt .

Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã viết .

Ông cho rằng núi Quỳnh Viên ở vùng biển trước cửa Sót của Việt Nam giáp giới Thanh Hoá – Nghệ An. Nhưng chính trong bản văn của truyện đã nói rõ Chử Đồng Tử lênh đênh hải ngoại thì không thể đi đến cửa Sót đã gặp ngay núi Quỳnh Viên. 

Do đó, chỉ có thể núi Quỳnh Viên là một địa danh thần thoại; hoặc là phải ở rất xa bờ biển Việt Nam , chứ không thể ở ngay cửa Sót được. Hơn nữa, Quỳnh Viên nghĩa đen là vườn Quỳnh, một địa danh dễ liên hệ tới Quỳnh Dao là nơi ở của bà Tây Vương Mẫu, hơn là một địa danh có thật. Vả lại, câu“Danh sơn do tích cổ Quỳnh viên” chưa trực tiếp khẳng định hòn núi này có tên là Quỳnh viên trước khi ngài Chử Đồng Tử đến tu tập. Cho dù, trên thực tế từ thời Lê Thánh Tôn – sau thời điểm ngài Chử Đồng Tử thành đạo ngót 2000 năm – hoặc trước đó đã có núi Quỳnh Viên và có một am nhỏ trên đó, thì điều đó cũng khó có thể liên hệ với một hiện tượng đã xảy ra trước đó gần hai ngàn năm. Bởi vì, nếu giả thiết Chử Đồng Tử đã từng tu ở đây thật và phổ biến Phật giáo vào thời của ngài như một hiện tượng xã hội lớn, đến mức độ vua Hùng phải quan tâm đến. Như vậy, sẽ dẫn tới sự liên hệ tiếp tục với những vấn đề sau đây:

* Ngôi chùa (hoặc am) trên núi Quỳnh Viên có thật đó sẽ là di tích đầu tiên của lịch sử Phật giáo Việt Nam . Nhưng, không thể ngôi chùa đầu tiên tu hành của vị đứng đầu Phật giáo Việt Nam là Chử Đồng Tử – đồng thời là một danh nhân của dân Lạc Việt: Ngài là một trong bốn vị thần bất tử trong tín ngưỡng dân gian – mãi mãi chỉ là một cái am nhỏ trải hàng ngàn năm sau đó, mà không được chú ý đến. Trong khi Phật giáo là một tôn giáo lớn được hầu hết người Việt tôn trọng, dù theo hay không theo tôn giáo này. Hơn nữa, câu trên cũng có thể hiểu rằng: bắt đầu tự sự tích núi Quỳnh Viên mà đời sau lấy tên đó đặt cho hòn núi này. Hay nói một cách khác: địa danh núi Quỳnh Viên có sau sự tích này. Do đó, chỉ có thể nhận xét một cách hợp lý rằng: người đời sau đã sử dụng một hiện tượng thực tế để minh chứng cho một truyền thuyết. Cũng như đầm Nhất Dạ ở Hải Dương, được coi là di tích của ngài Chử Đồng Tử. Nhưng chưa chắc hẳn đã là nơi ngài Chử Đồng Tử qui tiên ở đấy. Tức là, không phải ngài Chử Đồng Tử đã hoá phép để biến một vùng đất thành một cái hồ ở Hải Dương bây giờ là một thực tế. Chỉ có thể coi đây là một hiện tượng thực tế được sử dụng để bảo chứng cho sự tồn tại của một truyền thuyết.

Từ sự thống nhất giữa các dị bản về Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại Quỳnh Viên – Nam Giới , và cũng cần lưu ý đây chính là nơi biên ải ngày xưa thì vấn đề Chử Đồng Tử học Đạo tại đây là việc có thể tin cậy được . Còn nơi đây chỉ là nơi Chử Đồng Tử học Đạo , và là di tích đầu tiên về người Việt tu hành tại đó , do vậy không phải là nơi không được chú ý đến như Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã viết . Ta cũng cần nhớ là Đạo Phật còn có thêm một con đường vào Việt Nam nữa về sau này tại vùng Luy Lâu do Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) (? - 594) (Tổ khai sáng dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi ở Việt Nam ) . 

Và nếu ai có đi qua Chùa Tổ thờ Phật Mẫu man nương ở vùng Luy Lâu thì cũng thấy rằng , tuy là ngôi chùa Tổ , nhưng lại được công nhận sau cùng , sau cả chùa Dâu , chùa Keo và hầu như ít được chú ý của giới nghiên cứu nước nhà . dienbatn có viết bài giới thiệu về chùa Tổ trong bài Những chú Độc nhãn Long .

Đây là một tư liệu dienbatn tìm được từ nguồn http://www.thienlybuutoa.org cũng rất đáng quan tâm 
“ 
Theo Thiền uyển truyền đăng tập lục, Pháp sư Đàm Thiên trong khi đàm đạo với vua nhà Tùy (thế kỷ VI-VII) đã cho biết Giao Châu có đường thông thương với Ấn Độ, nên khi ở Giang Đông (Trung Quốc) đạo Phật hãy còn xa lạ thì tại thủ đô Luy Lâu của Giao Châu đã có trên hai mươi chùa Phật, hơn năm trăm nhà sư, đã biết đến mười lăm bộ kinh.

Có bằng chứng cho thấy Phật giáo đã từ Việt Nam vào Trung Quốc trước khi Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam. Thế kỷ III, Ngô Tôn Quyền ở Giang Đông đã được sư Khương Tăng Hội từ Giao Châu sang truyền đạo, Tôn Quyền đã cho cất chùa Kiến Sơ vào dịp này.

Đại Việt sử ký toàn thư và Ngô chí (viết vào thế kỷ IV) chép lại lá thư của một người Hán là Viên Huy, gửi cho Thượng thư lịnh Tuân Úc năm 207. Thư kể rằng Thái thú Sĩ Tiếp (Sĩ Nhiếp) ở Giao Châu mỗi khi ra đường đều có các nhà sư Ấn Độ theo xe, xông trầm đốt hương, đánh chuông khánh, thổi kèn sáo.

Do miền Bắc sớm trực tiếp gặp Phật giáo Ấn Độ nên người miền Bắc có từ Bụt. (Tục ngữ: Gần chùa gọi Bụt bằng anh; Đi với Bụt mặc cà sa, đi với ma mặc áo giấy…) Bụt do gốc tiếng Ấn Buddha. Sau này tiếp xúc Phật giáo Trung Quốc nên có thêm từ Phật, mượn ở cách người Hoa phiên âm từ Buddha (tiếng Hán-Việt là Phật đà).

Về sau, việc truyền đạo trực tiếp từ Ấn sang giảm bớt dần, trong lúc theo đường bộ đạo Phật từ phương Bắc du nhập chiếm ưu thế hơn. Do ảnh hưởng từ phương Bắc xuống, hay Bắc tông, Phật giáo Việt Nam thuộc ngành đại thừa. Trái lại, do ảnh hưởng từ phương Nam lên, hay Nam tông, các lân bang như Lào, Cam-pu-chia, Thái thuộc ngành tiểu thừa. "

 Xem tiếp bài 3 - dienbatn.
Xem tiếp…

Blog TTL VỚI THỜI GIAN

Breaking News